Góc IT xin giới thiệu với các bạn các câu lệnh thường dùng trong linux
– pwd: xem thư mục hiện hành
– cd: di chuyển đến thư mục
– ls: đưa ra danh sách nội dung thư mục
– mkdir: tạo thư mục mới .
– touch: tạo file mới
– rmdir: bỏ một thư mục
– cp: copy file hoặc thư mục
– mv: di chuyển file hoặc thay đổi tên file
– rm: loại bỏ file
Để tìm kiếm file, bạn có thể dùng:
– find : dùng cho các tên file.
– grep < tiêu chuẩn tìm kiếm>: để tìm nội dung trong file.
Để xem một file, bạn có thể dùng:
– more : hiển thị file theo từng trang.
– cat < tên file>: hiển thị tất cả file.
– head < tên file>: hiển thị các dòng đầu tiên.
– tail < tên file>: hiển thị các dòng cuối cùng (có thể hữu ích
trong những trường hợp như khi bạn muốn xem thông tin cuối cùng của một
file hệ thống).
Để chính sửa file:
bạn phải sử dụng trình soạn thảo tích hợp sẵn trên dòng lệnh. Thông thường, đây là vi và được dùng với cú pháp: vi .
Để giải nén một lưu trữ :
(thông thường có đuôi tar.gz), bạn phải dùng lệnh tar với cú pháp tar -xvf .
Để in một file :
dùng lệnh lpr . Chú ý là
bạn phải có một số daemon hoạt động để quản lý máy in. Thông thường đây
là các cup (chủ yếu là UNIX Printing System) có thể sử dụng cho tất cả
các phân phối chính.
Để loại bỏ file khỏi hàng đợi ở máy in (bạn có thể lên danh sách hàng đợi bằng lệnh lpq), sử dụng câu lệnh lprm .
Để lắp hoặc gỡ bỏ thiết bị (thêm vào hệ thống file với vai trò như một phương tiện được phép sử dụng), dùng:
– mount /mnt/floppy: lắp thêm ổ mềm.
– umount /mnt/floppy: gỡ bỏ ổ mềm.
– mount /mnt/cdrom: lắp ổ CD-ROM.
– mount /mnt/cdrom: gỡ ổ DC-ROM.
Các thiết bị này thường được cài và cho phép sử dụng một cách tự
động. Nhưng có thể một ngày đẹp trời nào đó bạn lại phải tự mình thực
hiện công việc này khi có lỗi xảy ra. Đừng lo lắng!
Để tạo một phân vùng
Đầu tiên, tạo một thư mục trong /mnt (mkdir /mnt/ổ_đĩa_mới). Sau đó
sử dụng lệnh mount (mount /dev/source /mnt/ ổ_đĩa_mới), trong đó
/dev/source là thiết bị (tức phân vùng) bạn muốn lắp thêm vào hệ thống
file.
Nếu muốn kết nối tới một host từ xa, sử dụng lệnh ssh. Cú pháp là ssh .
Quản lý hệ thống:
– ps: hiển thị các chương trình hiện thời đang chạy (rất hữu ích: ps là cái nhìn toàn bộ về tất cả các chương trình).
Trong danh sách đưa ra khi thực hiện lệnh ps, bạn sẽ thấy có số PID (Process identification – nhân dạng tiến trình).
Con số này sẽ được hỏi đến khi muốn ngừng một dịch vụ hay ứng dụng, dùng lệnh kill .
– top: hoạt động khá giống như Task Manager trong Windows. Nó đưa ra
thông tin về tất cả tài nguyên hệ thống, các tiến trình đang chạy, tốc
độ load trung bình… Lệnh top -d thiết lập khoảng thời gian làm tươi lại
hệ thống. Bạn có thể đặt bất kỳ giá trị nào, từ .1 (tức 10 mili giây)
tới 100 (tức 100 giây) hoặc thậm chí lớn hơn.
– uptime: thể hiện thời gian của hệ thống và tốc độ load trung bình trong khoảng thời gian đó, trước đây là 5 phút và 15 phút.
Thông thường tốc độ load trung bình được tính toán theo phần trăm tài
nguyên hệ thống (vi xử lý, RAM, ổ cứng vào/ra, tốc độ load mạng) được
dùng tại một thời điểm. Nếu tốc độ được tính toán là 0.37, tức có 37%
tài nguyên được sử dụng. Giá trị lớn hơn như 2.35 nghĩa là hệ thống phải
đợi một số dữ liệu, khi đó nó sẽ tính toán nhanh hơn 235% mà không gặp
phải vấn đề gì. Nhưng giữa các phân phối có thể khác nhau một chút.
– free: hiển thị thông tin trên bộ nhớ hệ thống.
– ifconfig : để xem thông tin chi tiết về các giao diện mạng; thông
thường giao diện mạng ethernet có tên là eth(). Bạn có thể cài đặt các
thiết lập mạng như địa chỉ IP hoặc bằng cách dùng lệnh này (xem man
ifconfig). Nếu có điều gì đó chưa chính xác, bạn có thể stop hoặc start
(tức ngừng hoặc khởi_động) giao diện bằng cách dùng lệnh
ifconfig up/down.
– passwd: cho phép bạn thay đổi mật khẩu (passwd
người_dùng_sở_hữu_mật_khẩu hoặc tên người dùng khác nếu bạn đăng nhập hệ
thống với vai trò root).
– useradd: cho phép bạn thêm người dùng mới (xem man useradd).
Để thoát hay đóng shell, gõ exit hoặc logout.
Nguồn : http://www.gocit.vn/bai-viet/cac-cau-lenh-thuong-dung-trong-linux/
Showing posts with label Linux và Các Câu Lệnh. Show all posts
Showing posts with label Linux và Các Câu Lệnh. Show all posts
Saturday, January 31, 2015
Tìm hiểu về /dev/null .
Trong quá trình sử dụng linux hay xem các bài hướng dẫn bảo mật chắc các bạn đã từng nghe nhiều đến một file đặt biệt trong hệ thống các file của linux là file /dev/null.
Hôm nay Góc IT xin giới thiệu về file này để các bạn cùng hiểu thêm về hệ thống file của linux, ngoài ra có thể áp dụng nó trong việc bảo mật.
1. Trong linux mọi thứ là file.
Điều căn bản này rất quan trọng nên xin nhấn mạnh lại một lần nữa, hệ điều hành linux xem mọi thứ đều là “file” và theo định nghĩa thì file là” a block of arbitrary information, or resource for storing information”.
Vì vậy dễ dàng nhận thấy đối với linux thì folder cũng là file. Nhưng để làm việc hiệu quả thì linux cũng cần phải chia ra làm nhiều loại file khác nhau phục vụ cho công việc, thông thường thì có 7 loại chính sau đây.
2. Đặt điểm của /dev/null
/dev/null (còn gọi là “the null device”) là một file có đặt điểm là vứt bỏ (discards) mọi dữ liệu mà người dùng ghi vào trong nó (thường thông qua các lệnh chuyển hướng của shell hay các lệnh mv, cp,…), nhưng nó vẫn báo là hoàn thành quá trình ghi vào chớ không sinh ra lỗi. Và vì file này không lưu gì vào trong cả nên dĩ nhiên là cũng không xuất ra bất cứ cái gì.
Người ta xem như nó là một “lỗ đen” trong máy tính, có tác dụng thu nhận mọi thứ và không giới hạn, nhưng chả trả lại cái gì cả
3. Ứng dụng của file /dev/null
Dựa vào trong những đặt điểm trên của file /dev/null, nó được ứng dụng rộng rãi kể cả trong bảo mật (thậm chí mục tiêu bảo mật là chính), một vài ứng dụng của nó trong bảo mật là:
Nguồn : http://www.gocit.vn/bai-viet/tim-hieu-ve-dev-null/
Hôm nay Góc IT xin giới thiệu về file này để các bạn cùng hiểu thêm về hệ thống file của linux, ngoài ra có thể áp dụng nó trong việc bảo mật.
1. Trong linux mọi thứ là file.
Điều căn bản này rất quan trọng nên xin nhấn mạnh lại một lần nữa, hệ điều hành linux xem mọi thứ đều là “file” và theo định nghĩa thì file là” a block of arbitrary information, or resource for storing information”.
Vì vậy dễ dàng nhận thấy đối với linux thì folder cũng là file. Nhưng để làm việc hiệu quả thì linux cũng cần phải chia ra làm nhiều loại file khác nhau phục vụ cho công việc, thông thường thì có 7 loại chính sau đây.
d = directoryCác bạn thử gõ lệnh sau đây xem :
l = symbolic link
s = socket
p = named pipe
– = regular file
c = character (unbuffered) device file special
b = block (buffered) device file special
ls -la /dev/nullVậy nên có thể kết luận /dev/null là loại “character (unbuffered) device file special” (nội dung bài này không phải là phân tích cấu trúc các file linux nên phần này bỏ qua không giải thích).
crw-rw-rw- 1 root root 1, 3 2011-04-26 13:00 /dev/null
2. Đặt điểm của /dev/null
/dev/null (còn gọi là “the null device”) là một file có đặt điểm là vứt bỏ (discards) mọi dữ liệu mà người dùng ghi vào trong nó (thường thông qua các lệnh chuyển hướng của shell hay các lệnh mv, cp,…), nhưng nó vẫn báo là hoàn thành quá trình ghi vào chớ không sinh ra lỗi. Và vì file này không lưu gì vào trong cả nên dĩ nhiên là cũng không xuất ra bất cứ cái gì.
Người ta xem như nó là một “lỗ đen” trong máy tính, có tác dụng thu nhận mọi thứ và không giới hạn, nhưng chả trả lại cái gì cả
3. Ứng dụng của file /dev/null
Dựa vào trong những đặt điểm trên của file /dev/null, nó được ứng dụng rộng rãi kể cả trong bảo mật (thậm chí mục tiêu bảo mật là chính), một vài ứng dụng của nó trong bảo mật là:
- Các gói tin nào không phù hợp thường được firewall chuyển vào trong /dev/null
– Các email server cũng thường được config để chuyển các email spam vào trong /dev/null giúp không bị đầy hdd
– Trong các chương trình bắt buộc phải có đầu ra dữ liệu, nhưng vì bảo mật bạn không muốn nó xuất hiện các thông tin đầu ra ví dụ .bash_history của root thì cũng có thể dùng /dev/null
– Ngoài ra các bạn còn có thể tạo các file rỗng bằng cách lấy dữ liệu trong /dev/null ra.
– … và còn nhiều thứ nữa.
Nguồn : http://www.gocit.vn/bai-viet/tim-hieu-ve-dev-null/
Quyền truy cập file trên Linux .
Một trong những điểm mạnh của Linux
là có khả năng phân quyền hạn truy cập (Permission) cho mọi đối tượng
(file, thư mục, link). Hệ thống này đóng vai trò quan trọng trong việc
cung cấp mức an ninh cao và tính ổn định cho hệ điều hành Linux.
Mỗi đối tượng file được gắn với ba loại quyền: read (đọc), write (sửa đổi) và execute (thực thi). Và mỗi quyền này lại được chỉ định cho ba loại user:
Ý nghĩa của ba loại quyền này là:
Read: cho phép đọc.
Write: cho phép chỉnh sửa nội dung, xóa file; cho phép tạo và xóa các đối tượng trong thư mục.
Excute: cho phép thực thi hoặc truy cập nếu đó là thư mục.
Các quyền cho mỗi đối tượng được biểu diễn theo hai cách
Cách thứ nhất là biểu diễn bằng một chuỗi gồm 10 ký tự:
Để xem chi tiết các quyền của tệp tin, bạn sử dụng lệnh ls với tùy chọn -l
Số đầu cho owner, số thứ hai cho group, số còn lại cho other. Mỗi một số nhận một trong tám giá trị sau:
Để thay đổi quyền hạn truy cập cho các user sử dụng lệnh chmod (bạn phải là owner của file hoặc có quyền root)
Các thuộc tính khác của tệp tin liên quan đến quyền truy cập rất đáng chú ý khác nữa là: Set user ID, set group ID, sticky bit. Các bít này bổ xung thêm cho các quyền đã mô tả ở trên. Sau đây là mô tả chi tiết ba bít này:
Nguồn : http://www.gocit.vn/bai-viet/quyen-truy-cap-file-tren-linux/
Mỗi đối tượng file được gắn với ba loại quyền: read (đọc), write (sửa đổi) và execute (thực thi). Và mỗi quyền này lại được chỉ định cho ba loại user:
- owner : chủ sở hữu của đối tượng – mặc định ban đầu là user tạo ra đối tượng đó.
- group : nhóm các user chia sẻ chung quyền hạn truy cập – mặc định ban đầu là group mà owner ở trên thuộc về.
- others : tất cả các user không thuộc hai nhóm trên.
Ý nghĩa của ba loại quyền này là:
Read: cho phép đọc.
Write: cho phép chỉnh sửa nội dung, xóa file; cho phép tạo và xóa các đối tượng trong thư mục.
Excute: cho phép thực thi hoặc truy cập nếu đó là thư mục.
Các quyền cho mỗi đối tượng được biểu diễn theo hai cách
Cách thứ nhất là biểu diễn bằng một chuỗi gồm 10 ký tự:
- Ký tự đầu thể hiện loại file:
- : Tệp tin thông thường
d : Thư mục
l : Liên kết
c : Special file
s : Socket
p : Named pipe
b : Thiết bị
- Ba ký tự tiếp là các quyền cho owner.
- Kế đến là ba ký tự biểu diễn các quyền cho group.
- Còn lại ba ký tự cuối dành cho other.
Để xem chi tiết các quyền của tệp tin, bạn sử dụng lệnh ls với tùy chọn -l
$ ls -lGiải thích chi tiết:
-rwxr-xr-x 1 ubuntu ubuntu 9144 2011-07-07 15:16 a.out
drwxr-xr-x 2 ubuntu ubuntu 4096 2011-07-07 15:29 Desktop
-rw-r–r– 1 ubuntu ubuntu 68 2011-07-07 15:16 main.c
- a.out : đây là file thực thi thông thường
- Desktop : đây là một thư mục
- main.c : đây là file thường, chủ sở hữu có quyền đọc và ghi; nhóm có quyền đọc; người khác có quyền đọc
Số đầu cho owner, số thứ hai cho group, số còn lại cho other. Mỗi một số nhận một trong tám giá trị sau:
0 : cấm tất cả các quyềnChỉ cần đổi ra dạng nhị phân, bạn sẽ hiểu ngay được các con số này.
1 : execute
2 : write
3 : execute + write
4 : read
5 : read + execute
6 : read + write
7 : read + write + execute
Để thay đổi quyền hạn truy cập cho các user sử dụng lệnh chmod (bạn phải là owner của file hoặc có quyền root)
$ chmod 744 main.c # main.c sẽ có thuộc tính là: -rwxr–r–Có một cách khác là sử dụng chmod bằng cách sử dụng ký tự đại diện. Các ký tự đại diện cho nhóm là:
- u : user sở hữu file
- g : group của user trên
- o : others
- a : tất cả ba ký hiệu ở trên
- + : thêm quyền
- - : bớt quyền
- = : gán quyền
$ chmod +x demo.sh # mặc định là u nên ở đây không cần nữaĐể thay đổi owner cho đối tượng sử dụng lệnh chown (bạn phải có quyền root):
$ chmod u+rwx,go-rwx demo.sh # bạn đoán thử xem!
$ chown User_Name File_NameĐể thay đổi group cho đối tượng sử dụng lệnh chgrp nhưng phải thỏa một trong hai điều kiện sau:
- Bạn sử dụng quyền root
- Bạn là chủ sở hữu và thuộc Group (có tên là Group_Name trong lệnh) mà bạn muốn thay đổi Group cho file:
$ chgrp Group_Name File_NameĐể biết mình thuộc các nhóm nào, bạn sử dụng lệnh ‘id’. Lệnh này cho biết id cùng với tên của bạn và các nhóm mà bạn tham gia.
Các thuộc tính khác của tệp tin liên quan đến quyền truy cập rất đáng chú ý khác nữa là: Set user ID, set group ID, sticky bit. Các bít này bổ xung thêm cho các quyền đã mô tả ở trên. Sau đây là mô tả chi tiết ba bít này:
- SUID hay setuid: thay đổi việc thực thi dành cho user ID. Nếu như setuid được đặt, khi tệp tin được thực thi bởi người dùng (user), tuyến trình được tạo ra sẽ có cùng quyền với tệp tin.
- SGID hay setgid: thay đổi việc thực thi dành cho group ID. Giống như ở trên, nhưng kế thừa các quyền của nhóm. Đối với các thư mục điều đó có nghĩa là khi một tệp tin được tạo ra trong thư mục nó sẽ kế thừa nhóm của thư mục (và không ai là người tạo ra cả).
- Bít Sticky: Hiện nay nó ứng xử phụ thuộc vào từng hệ thống và nó thường được sử dụng để chống việc xóa các tệp tin mà tập tin này có quan hệ với những người dùng khác trong thư mục nơi bạn có quyền “write”.
- SUID: Nếu được đặt, sẽ thay thế “x” trong quyền chủ sở hữu thành “s”, nếu chủ sở hữu có quyền thực thi, còn nếu không thì thành “S”. Ví dụ:
-rws—— cả quyền thực thi và SUID được đặt.
-r-S—— SUID được đặt, nhưng quyền thực thi thì không.
- SGID: Nếu được đặt, sẽ thay thế “x” trong nhóm thành “s”, nếu nhóm có quyền thực thi, còn nếu không thì thành “S”. Ví dụ:
-rwxrws— nhóm có quyền thực thi và bít SGID được đặt.
-rwxr-S— SGID được đặt, nhưng nhóm này không được thực thi.
- Sticky: Nếu được đặt, sẽ thay thế “x” trong others thành “t”, nếu others có quyền thực thi, còn nếu không thì thành “T”. Ví dụ:
-rwxrwxrwt others có quyền thực thi và bít sticky được đặt
-rwxrwxr-T sticky được đặt, nhưng quyền thực thi cho others thì không.
Nguồn : http://www.gocit.vn/bai-viet/quyen-truy-cap-file-tren-linux/
Chia sẻ dữ liệu với NFS server .
NFS nếu bạn muốn chia sẻ dữ liệu giữa các máy *nix với nhau. Nếu trong mạng của bạn có những OS khác như Windows hãy sử dụng samba . Cài đặt NFS trên Debian:
Ví dụ nếu bạn muốn chia sẻ thư mục /mnt/nfs cho client với quyền đọc-ghi trước hết hãy tạo nó với câu lệnh:
sau khi cấu hình xong hãy chạy:
Nguồn : http://www.gocit.vn/bai-viet/nfs-server/
# apt-get install nfs-common
Cấu hình NFS Server:Ví dụ nếu bạn muốn chia sẻ thư mục /mnt/nfs cho client với quyền đọc-ghi trước hết hãy tạo nó với câu lệnh:
và cấu hình file /etc/exports như sau:# mkdir /mnt/nfs
# chown nobody:nogroup /mnt/nfs
/mnt/nfs 192.168.1.2(rw,sync,no_root_squash)
trong ví dụ trên thư mục /mnt/nfs trên server (192.168.1.1) sẽ được chia sẻ cho client (192.168.1.2) với quyền đọc-ghi. Hãy chắc chắn rằng thư mục đó cho phép đọc-ghi.sau khi cấu hình xong hãy chạy:
# exportfs -a
Kết nối với NFS server trên client
# mount 192.168.1.1:/mnt/nfs /mount/nfs
nếu bạn muốn tự động kết nối mỗi khi khởi động hãy thêm dòng sau vào /etc/fstab:
192.168.1.1:/mnt/nfs /mount/nfs nfs rw,sync,hard,intr 0 0
Nguồn : http://www.gocit.vn/bai-viet/nfs-server/
Sử dụng Crontab trên Linux .
Tính năng Cron trong Linux
thực chất là 1 chế độ sắp xếp tự động các chương trình, ứng dụng và
kích hoạt chúng tại 1 thời điểm nhất định trong hệ thống, tương tự với
Task Scheduler của Windows.
Tất cả những gì chúng ta cần làm tại đây là gán các chương trình cần thực thi tới file crontab của hệ thống và sử dụng cấu trúc lệnh phù hợp, cron sẽ tự động thực hiện các ứng dụng đó vào thời điểm đã được thiết lập sẵn trước đó. Do vậy, tính năng này rất phù hợp trong quá trình tự động sao lưu dữ liệu, bảo dưỡng hệ thống… và các công việc tương tự khác.
Cài đặt crontab bằng yum
Một cron schedule đơn giản là một text file. Mỗi người dùng có một cron schedule riêng, file này thường nằm ở /var/spool/cron. Crontab files không cho phép bạn tạo hoặc chỉnh sửa trực tiếp với bất kỳ trình text editor nào, trừ phi bạn dùng lệnh crontab. Một số lệnh thường dùng:
Một crontab file có 5 trường xác định thời gian, cuối cùng là lệnh sẽ được chạy định kỳ, cấu trúc như sau:
Ví dụ
Giả sử một đoạn script backup database MySQL như sau:
Nguồn : http://www.gocit.vn/bai-viet/crontab-linux/
Tất cả những gì chúng ta cần làm tại đây là gán các chương trình cần thực thi tới file crontab của hệ thống và sử dụng cấu trúc lệnh phù hợp, cron sẽ tự động thực hiện các ứng dụng đó vào thời điểm đã được thiết lập sẵn trước đó. Do vậy, tính năng này rất phù hợp trong quá trình tự động sao lưu dữ liệu, bảo dưỡng hệ thống… và các công việc tương tự khác.
Cài đặt crontab bằng yum
yum install crontabs.noarchCron làm việc thế nào?
yum install vixie-cron ( sử dụng lệnh này nếu lệnh trên không hoạt động)
Một cron schedule đơn giản là một text file. Mỗi người dùng có một cron schedule riêng, file này thường nằm ở /var/spool/cron. Crontab files không cho phép bạn tạo hoặc chỉnh sửa trực tiếp với bất kỳ trình text editor nào, trừ phi bạn dùng lệnh crontab. Một số lệnh thường dùng:
crontab -e: tạo hoặc chỉnh sửa file crontabCấu trúc của crontab
crontab -l: hiển thị file crontab
crontab -r: xóa file crontab
Một crontab file có 5 trường xác định thời gian, cuối cùng là lệnh sẽ được chạy định kỳ, cấu trúc như sau:
* * * * * command to be executedNếu một cột được gán ký tự *, nó có nghĩa là tác vụ sau đó sẽ được chạy ở mọi giá trị cho cột đó.
– – – – –
| | | | |
| | | | +—– day of week (0 – 6) (Sunday=0)
| | | +——- month (1 – 12)
| | +——— day of month (1 – 31)
| +———– hour (0 – 23)
+————- min (0 – 59)
Ví dụ
Giả sử một đoạn script backup database MySQL như sau:
#!/bin/bashSau đó cho script này chạy định kỳ vào 4h sáng hàng ngày bằng cách tạo một file crontab như sau:
DB=db_gocit_bk_`date +%Y%m%d-%H%M`.sql
/usr/bin/mysqldump -u root –password=’password_gocit’ –databases gocit -R > /backup/database/$DB
gzip /backup/database/$DB
# crontab -eCuối cùng, nhớ kiểm tra dịch vụ cron daemon
0 4 * * * /bin/sh /backup/backup.sh >/dev/null
# /etc/init.d/crond statusNếu crontab chưa khởi động thì khởi động bằng lệnh
# /etc/init.d/crond start
# chkconfig crond on
Nguồn : http://www.gocit.vn/bai-viet/crontab-linux/
Một số lệnh cơ bản sử dụng YUM .
YUM là một lệnh thường dùng trong Centos
để cài đặt, gỡ bỏ, update….các phần mềm. Đây là một lệnh rất hữu ích và
tiện dụng. Bài viết sẽ liệt kê một số option cơ bản của lệnh yum. Tìm một phần mềm nào đó:
#yum search package-name
VD: #yum search java
Liệt kê tất cả các gói phần mềm đã được cài đặt trên máy:
# rpm -qa
# yum list installed
Hiển thị danh sách các gói phần mềm đã có bản update:
# yum list updates
Thực hiện nâng cấp tất cả các gói phần mềm:
# yum update
Liệt kê các gói phần mềm với bộ lọc: (vd: samba)
# rpm -qa | grep samba*
# yum list installed samba
Kiểm tra xem một gói phần mềm cụ thể đã có bản update mới chưa:
# yum update package-name
VD: # yum update samba
Tìm kiếm một gói phần mềm lọc theo tên:
# yum list package-name
# yum list regex
VD: samba, có thể dùng dấu * để thay thế cho các kí tự chưa xác định
# yum list samba
# yum list java*
Cài đặt gói phần mềm cụ thể:
# yum install package-name-1 package-name-2
# yum install samba vnc-viewer
Gỡ bỏ gói phần mềm cụ thể:
# yum remove package-name-1 package-name-2
# yum remove samba vnc-viewer
Hiển thị danh sách các gói đang kích hoạt:
# yum list all
Hiển thị các gói phần mềm theo nhóm:
# yum grouplist
Cài đặt tất cả các gói phần mềm có trong nhóm:
# yum groupinstall “Development Tools”
Update tất cả các gói phần mềm có trong nhóm:
# yum groupupdate “Development Tools”
Gỡ bỏ tất cả các gói phần mềm có trong nhóm:
# yum groupremove “Development Tools”
Hiển thị các gói phần mềm ko thể cài đặt:
# yum list extras
Hiển thị thông tin về gói phần mềm của một file cụ thể:
# yum whatprovides /etc/passwd
Xem trợ giúp thêm về lệnh Yum:
# man yum
Mở file /etc/yum.repos.d/CentOS-Base.repo và chèn đoạn text sau vào cuối dòng:
Bước 2:
Nhập khóa GPG để xác thực
Thực hiện nâng cấp tất cả các gói phần mềm:
Thế là xong! từ nay các bạn sẽ có các phần mềm mới nhất khi cài đặt từ lệnh yum.
Nguồn : http://www.gocit.vn/bai-viet/mot-so-lenh-co-ban-su-dung-yum/
#yum search package-name
VD: #yum search java
Liệt kê tất cả các gói phần mềm đã được cài đặt trên máy:
# rpm -qa
# yum list installed
Hiển thị danh sách các gói phần mềm đã có bản update:
# yum list updates
Thực hiện nâng cấp tất cả các gói phần mềm:
# yum update
Liệt kê các gói phần mềm với bộ lọc: (vd: samba)
# rpm -qa | grep samba*
# yum list installed samba
Kiểm tra xem một gói phần mềm cụ thể đã có bản update mới chưa:
# yum update package-name
VD: # yum update samba
Tìm kiếm một gói phần mềm lọc theo tên:
# yum list package-name
# yum list regex
VD: samba, có thể dùng dấu * để thay thế cho các kí tự chưa xác định
# yum list samba
# yum list java*
Cài đặt gói phần mềm cụ thể:
# yum install package-name-1 package-name-2
# yum install samba vnc-viewer
Gỡ bỏ gói phần mềm cụ thể:
# yum remove package-name-1 package-name-2
# yum remove samba vnc-viewer
Hiển thị danh sách các gói đang kích hoạt:
# yum list all
Hiển thị các gói phần mềm theo nhóm:
# yum grouplist
Cài đặt tất cả các gói phần mềm có trong nhóm:
# yum groupinstall “Development Tools”
Update tất cả các gói phần mềm có trong nhóm:
# yum groupupdate “Development Tools”
Gỡ bỏ tất cả các gói phần mềm có trong nhóm:
# yum groupremove “Development Tools”
Hiển thị các gói phần mềm ko thể cài đặt:
# yum list extras
Hiển thị thông tin về gói phần mềm của một file cụ thể:
# yum whatprovides /etc/passwd
Xem trợ giúp thêm về lệnh Yum:
# man yum
Cài đặt các phần mềm mới nhất thông qua lệnh YUM
Yum là công cụ cài đặt thông dụng trong CentOS. Ưu điểm nổi bật của Yum là tính tự động cao.
Việc cài đặt thông qua công cụ quản lý gói (YUM) rất dễ sử dụng. Tuy nhiên, tùy theo nguồn nên các phần mềm cài đặt dùng lệnh yum thường không phải là phiên bản mới nhất. Nếu các bạn muốn có các phần mềm mới nhất, mà không cần download source code rồi biên dịch thì có thể làm theo hướng dẫn sau để cập nhật thêm các nguồn tài nguyên cho lệnh yum.
Việc cài đặt thông qua công cụ quản lý gói (YUM) rất dễ sử dụng. Tuy nhiên, tùy theo nguồn nên các phần mềm cài đặt dùng lệnh yum thường không phải là phiên bản mới nhất. Nếu các bạn muốn có các phần mềm mới nhất, mà không cần download source code rồi biên dịch thì có thể làm theo hướng dẫn sau để cập nhật thêm các nguồn tài nguyên cho lệnh yum.
Bước 1:
Mở file /etc/yum.repos.d/CentOS-Base.repo và chèn đoạn text sau vào cuối dòng:
[utterramblings]
name=Jason’s Utter Ramblings Repo
baseurl=http://www.jasonlitka.com/media/EL$releasever/$basearch/
enabled=1
gpgcheck=1
gpgkey=http://www.jasonlitka.com/media/RPM-GPG-KEY-jlitka[dag]
name=Dag RPM Repository for Red Hat Enterprise Linux
baseurl=http://apt.sw.be/redhat/el$releasever/en/$basearch/dag
gpgcheck=1
enabled=1
Lưu lại.baseurl=http://www.jasonlitka.com/media/EL$releasever/$basearch/
enabled=1
gpgcheck=1
gpgkey=http://www.jasonlitka.com/media/RPM-GPG-KEY-jlitka[dag]
name=Dag RPM Repository for Red Hat Enterprise Linux
baseurl=http://apt.sw.be/redhat/el$releasever/en/$basearch/dag
gpgcheck=1
enabled=1
Bước 2:
Nhập khóa GPG để xác thực
# rpm –import http://dag.wieers.com/rpm/packages/RPM-GPG-KEY.dag.txt
# rpm –import http://www.jasonlitka.com/media/RPM-GPG-KEY-jlitka
# yum update
Nguồn : http://www.gocit.vn/bai-viet/mot-so-lenh-co-ban-su-dung-yum/
Các câu lệnh dành cho network trên linux .
curl và wget
Sử dụng lệnh curl hoặc wget để tải một file từ internet mà không cần đầu cuối. Với lệnh curl, gõ curl-O đường dẫn tới file. Người sử dụng có thể sử dụng lệnh wget mà không cần thêm tùy chọn nào. File sẽ xuất hiện ở đường dẫn.- Curl-O website.com/file
- Wget website.com/file
ping
Lệnh ping gửi các gói ECHO_REQUEST tới địa chỉ chỉ định. Câu lệnh nhằm kiểm tra máy tính có thể kết nối với Internet hay một địa chỉ IP cụ thể nào đó hay không. Tuy nhiên có rất nhiều hệ thống được cấu hình để không hồi đáp với các lệnh ping.Không giống lệnh ping trên Windows, câu lệnh ping trên Linux sẽ duy trì gửi các gói tin cho đến khi bạn kết thúc nó. Có thể định số lượng gói tối đa gửi đi bằng cách gõ thêm tùy chọn –c.
- ping –c 4 google.com
Tracepath và traceroute
Lệnh tracepath cũng tương tự như traceroute nhưng nó không đòi hỏi các quyền quản trị. Nó cũng được cài đặt mặc định trên Ubuntu còn tracerout thì không. Lệnh tracepath lần dấu đường đi trên mạng tới một đích chỉ định và báo cáo về mỗi nút mạng (hop) dọc trên đường đi. Nếu gặp phải các vấn đề về mạng, lệnh tracepath có thể chỉ ra vị trí lỗi mạng.- Tracepath example.com
mtr
Lệnh mtr là sự kết hợp ping và tracepath trong một câu lệnh đơn lẻ. mtr sẽ gửi liên tục các gói và hiển thị thời gian ping cho mỗi nút mạng. Câu lệnh cũng giúp phát hiện một số vấn đề mạng. Trong trường hợp này, có thể thấy nút thứ 6 làm mất hơn 20% tổng số gói.- mtr howtogeek.com
Nhấn q hoặc Ctrl-C để thoát khi bạn thực hiện xong.
host
Lệnh host sẽ thực hiện tìm kiếm DNS. Nhập vào tên miền khi muốn xem địa chỉ IP đi kèm và ngược lại, nhập vào địa chỉ IP khi muốn xem tên miền đi kèm.- Host howtogeek.com
- Host 208.43.115.82
whois
Lệnh whois sẽ đưa ra các bản ghi trên server whois (whois record) của website, vì vậy bạn có thể xem thông tin về người hay tổ chức đã đăng ký và sở hữu website đó.- whois example.com
ifplugstatus
Lệnh ifplugstatus giúp kiểm tra dây cáp có được cắm vào giao diện mạng hay không. Câu lệnh này không được cài đặt mặc định trên Ubuntu. Sử dụng câu lệnh sau để cài đặt nó- sudo apt-get install ifplugd
- ifplugstatus
- ifplugstatus eth0
“link beat detected” nghĩa là dây cáp đã được cắm và “unplugged” tức dây cáp chưa được cắm.
ifconfig
Câu lênh ifconfig có rất nhiều tùy chọn để cấu hình, điều chỉnh và dò lỗi trên các giao diện mạng hệ thống. Đây cũng là cách để xem nhanh các địa chỉ IP và các thông tin khác của giao diện mạng. Gõ ifconfig để xem trạng thái các giao diện mạng hiện đang hoạt động bao gồm tên của chúng. Bạn cũng có thể chỉ định tên một giao diện để xem thông tin trên duy nhất giao diện đó.- ifconfig
- ifconfig eth0
ifdown và ifup
Câu lệnh ifdown và ifup giống như ifconfig up hay ifconfig down. Hai câu lệnh thực hiện bật hoặc tắt giao diện chỉ định. Điều này yêu cầu quyền quản trị nên bạn phải dùng thêm từ khóa sudo trên Ubuntu.- sudo ifdown eth0
- sudo ifup eth0
Màn hình Linux sẽ báo lỗi khi được nhập những câu lệnh này. Nó thường sử dụng bộ NetworkManager cho phép quản lý giao diện mạng. Mặc dù vậy, các câu lệnh này vẫn sẽ hoạt động trên các server mà không cần dùng NetworkManager.
Nếu bạn thực sự cần cấu hình NetworkManager từ giao diện dòng lệnh, sử dụng câu lệnh nmcli.
dhclient
Lệnh dhclient giúp làm mới địa chỉ IP trên máy bằng cách giải phóng địa chỉ IP cũ và nhận một địa chỉ mới từ DHCP server. Công việc này yêu cầu quyền quản trị, vì vậy phải dùng thêm từ khóa sudo trên Ubuntu. Chạydhclient để nhận địa chỉ IP mới hoặc sử dụng tùy chọn –r để giải phóng địa chỉ IP hiện tại.- sudo dhclient –r
- sudo dhclient
netstat
Câu lệnh netstat đưa ra các thống kê khác nhau cho giao diện, bao gồm các socket mở và các bảng định tuyến.Sử dụng câu lệnh netstat –p để xem các chương trình đi kèm với các socket mở.
Xem các thống kê chi tiết cho tất cả các cổng bằng câu lệnh netstat –s.
Trên đây là các câu lệnh thông dụng để thao tác với mạng mà Linux hỗ trợ người sử dụng. Thông qua các câu lệnh này, người sử dụng có thể dễ dàng kiểm tra tìm sự cố hay các thông tin liên quan đến mạng.
Nguồn : http://www.gocit.vn/bai-viet/cac-cau-lenh-danh-cho-network-tren-linux/
Sunday, January 25, 2015
Các lệnh cơ bản để quản lí Sever VPS Linux .
Khi “kết thân” với Linux, nếu không nắm được một số câu lệnh cần thiết thì công việc quản trị của bạn sẽ gặp không ít khó khăn. Dưới đây là một số lệnh Linux cơ bản giúp cho việc quản trị của bạn dễ dàng hơn rất nhiều.
Các lệnh căn bản nhất:
Để kiểm tra thông số trên hosting cũng như server cài hệ điều hành Linux, các bạn có thể dùng một số lệnh sau:
# cat /proc/cpuinfo : hiển thị thông tin CPU
# cat /proc/meminfo : hiển thị thông tin về RAM đang sử dụng
# cat/ proc/version : hiển thị phiên bản của kernel
# free -m : hiển thị lượng RAM còn trống
# df -h : hiển thị thông tin những file hệ thống nơi mỗi file thường trú hoặc tất cả những file mặc dịnh và lệnh này có thể xem được dung lượng ổ cứng đã sử dụng và còn trống bao nhiêu.
# du -sh : xem dung lượng của thư mục
# du : xem chi tiết dung lượng của các thư mục bên trong nó.
# du -sh * : xem dung lượng chi tiết của tất cả các file trong thư mục hiện hành.
Một số lệnh nâng cao:
1. Hiển thị tiến trình trong hệ thống Linux
Một trong những công việc cần thiết khi quản trị hệ thống Linux đó là kiểm soát các tiến trình hiện đang chạy. Khi đã biết được những tiến trình nào đang chạy bạn có thể tắt những tiến trình gây giảm tốc độ của hệ thống. Ngoài ra, thông tin về những tiến trình hệ thống cho chúng ta biết nên tắt nhưng tiến trình làm cho hệ thống vận hành không ổn định. Do đó việc biết được những tiến trình nào đang chạy trên hệ thống rất quan trọng. Linux hỗ trợ nhiều phương pháp kiểm tra tiến trình, một trong số đó là sử dụng lệnh ps. Khi sử dụng lệnh này mọi thông tin về những tiến trình đang chạy sẽ được hiển thị. Bạn chỉ cần nhập cú pháp lệnh sau vào cửa sổ terminal:
# ps aux | less
Ngoài ra lệnh này có thể sử dụng kết hợp với một số tham số khác như:
# ps –A: Kiểm tra mọi tiến trình trong hệ thống.
# ps -U root -u root –N: Kiểm tra mọi tiến trình ngoại trừ những tiến trình hệ thống.
# ps -u username: Kiểm tra những tiến trình được thực hiện bởi một người dùng nhất định.
Hoặc bạn có thể sử dụng lệnh # top để xem những tiến trình đang chạy trên hệ thống trong thời gian thực.
2. Kiểm tra thông tin Socket và thông tin mạng TCP/UDP
Sau khi cấu hình những dịch vụ mạng của hệ thống Linux, bạn cần phải giữ lại tab của các cổng đang thực sự nhận tín hiệu trên giao diện mạng của hệ thống. Điều này rất quan trọng vì hệ thống có thể bị xâm nhập qua các cổng mở. Có một số công cụ quản lý Linux thông báo cho bạn biết thông tin của những cổng mởvà truy cập vào những cổng đang mở trên mạng. Một trong những phương pháp đơn giản và tin cậy nhất đó là sử dụng lệnh ss để kiểm tra thông tin Socket, ngoài ra lệnh này còn có thể hiển thị nhiều thông tin TCP và thông tin trạng thái hơn các công cụ khác. Lệnh ss này cung cấp thông tin về:
• Mọi Socket TCP.
• Mọi Socket UDP.
• Mọi kết nối ssh/ftp/http/https.
• Mọi tiến trình cục bộ được kết nối tới máy chủ X.
• Mọi Socket TCP trong trạng thái FIN-WAIT-1.
Dưới đây là một số lệnh ss:
# ss –s: Hiển thị tổng số Socket.
# ss -1: Hiển thị mọi cổng mở.
# ss –pl: Kiểm tra tên tiến trình sử dụng Socket mở sử dụng lệnh sau:
# ss -lp | grep: Kiểm tra người dùng đang làm việc với Socket mở.
# ss -t –a: Hiển thị mọi Socket TCP.
# ss -u –a: Hiển thị mọi Socket UDP.
3. Theo dõi Average CPU Load và Disk Activity
Nếu là một quản trị viên hệ thống Linux, bạn cần phải biết phương pháp duy trì một sự cân bằng hợp lý trong quá trình tải đầu vào và đầu ra giữa các ổ đĩa vật lý. Bạn có thể thay đổi cấu hình hệ thống để thực hiện tác vụ này. Tuy nhiên có một phương pháp đơn giản hơn rất nhiều đó là sử dụng lệnh isostat để quản lý hệ thống thiết bị tải đầu vào và đầu ra trong Linux bằng cách theo dõi thời gian hoạt động và tốc độ truyền trung bình của những thiết bị này. Lệnh này sẽ thông báo thông tin của CPU (Central Processing Unit), thông tin đầu vào và đầu ra cho những thiết bị, phân vùng và hệ thống file mạng (NFS).
Khi chạy lệnh isostat thông tin kết xuất có dạng:
Để lấy thông tin thư mục NFS bạn hãy sử dụng lệnh sau:
# iostat –n
4. Kiểm tra Memory Map của các tiến trình trong Linux
Khi làm việc trong hệ thống Linux có thể bạn cần kiểm tra dung lượng bộ nhớ sử dụng trong hệ thống. Linux tích hợp nhiều lệnh cho phép kiểm tra dung lượng bộ nhớ chiếm dụng. Trong đó có một lệnh đơn giản giúp hiển thị thông tin tổng dung lượng đã chiếm dụng và chưa chiếm dụng của bộ nhớ vật lý và tổng dung lượng bộ nhớ đó là lệnh free.
Sau khi chạy lệnh này bạn sẽ thấy tổng dung lượng đã chiếm dụng và chưa chiếm dụng của bộ nhớ vật lý và tổng dung lượng bộ nhớ trong hệ thống. Ngoài ra nó còn hiển thị thông tin bộ nhớ đệm mà các nhân sử dụng.
5. Kiểm tra thời gian vận hành của hệ thống
Bạn có muốn biết máy chủ đã vận hành bao lâu? Nếu muốn bạn chỉ cần sử dụng lênh uptime để kiểm tra thời gian mà hệ thống đã vận hành. Lệnh đơn giản này không chỉ cho bạn biết thời gian hệ thống vận hành mà còn cho biết lượng người dùng đã đăng nhập vào hệ thống trong một khoảng thời gian trước đó.
6. Kiểm tra người dùng đăng nhập
Ngoài những công cụ quản lý Linux, bạn có thể sử dụng một lệnh để kiểm tra những người dùng nào đã thực hiên đăng nhập vào hệ thống và những gì họ đã thực hiện. Lệnh này sẽ hiển thị thời gian hiện tại, thời gian hệ thống đã vận hành, lượng người dùng đã đăng nhập.Ngoài ra lệnh này cũng hiển thị lượng tải trung bình trong mỗi 1, 5 và 15 phút. Lệnh này rất hữu dụng với những Admin hệ thống muốn sử dụng thông tin tải trung bình để hoạch định dung lượng.
Để kiểm tra ai đã đăng nhập vào hệ thống và những tác vụ họ đã thực hiện bạn chỉ cần chạy lệnh sau:
# w username
7. Kiểm soát hành vi hệ thống, phần cứng và thông tin hệ thống trong Linux
Với nhiều người dùng Linux, kiểm soát hệ thống là một tác vụ phức tạp. Hầu hết các bản phân phối Linux tích hợp khá nhiều công cụ kiểm soát. Những công cụ kiểm soát này cung cấp các phương pháp có thể được áp dụng để kiểm tra thông tin hành vi hệ thống. Việc kiểm soát hệ thống cho phép người dùng theo dõi nguyên nhân khả năng thực thi của hệ thống bị cản trở. Một trong những tác vụ cần thiết của quá trình kiểm soát hệ thống là tra cứu thông tin về hành vi hệ thống, phần cứng và thông tin bộ nhớ. Có một lệnh đơn giản giúp hiển thị thông tin về tiến trình, bộ nhớ, trang ghi, nhóm IO, lỗi và hành vi CPU đó là lệnh vmstat.Bạn chỉ cần nhập lệnh sau vào cửa sổ terminal:
# vmstat 3
Ngoài ra bạn có thể sử dụng lệnh # vmstat –m để kiểm tra thông tin bộ nhớ, và lệnh # vmstat –a để hiển thị thông tin trang nhớ đang hoạt động và không hoạt động.
8. Kiểm tra thông tin phần cứng của hệ thống Linux
Với một số người dùng Linux thì việc kiểm tra thông tin phần cứng thật không dễ dàng. Linux là một hệ thống phức tạp nhưng nó lại tích hợp một số công cụ giúp lấy thông tin chi tiết của phần cứng, chẳng hạn chúng ta có thể sử dụng một lệnh khá đơn giản để kiểm tra thông tin đĩa cứng trên hệ thống đó là lệnh hdparm. Lệnh này cung cấp một giao diện dòng lệnh để thực hiện quản lý nhiều loại đĩa cứng được hệ thống phụ điều khiển thiết bị ATA/IDE của Linux hỗ trợ. Nó cung cấp một lệnh giúp hiển thị thông tin xác minh như dung lượng, thông tin chi tiết, … trực tiếp từ ổ đĩa. Thông tin này được lưu dưới một định dạng mở rộng mới. Bạn chỉ cần đăng nhập dưới quyền root user và sử dụng lệnh sau:
# hdparm -I /dev/sda
Hoặc dùng lệnh:
$ sudo hdparm -I /dev/sda
Khi đó thông tin về đĩa cứng của hệ thống sẽ lập tức hiển thị.
Nguồn : http://cnetvn.com/2013/07/16/cac-lenh-command-co-ban-de-quan-li-sever-vps-linux/
Một số lệnh hữu ích trong linux .
1. Lệnh liên quan đến hệ thống
logout: tương tự exit.
reboot: khởi động lại hệ thống.
halt: tắt máy.
startx: khởi động chế độ xwindows từ cửa sổ terminal.
mount: gắn hệ thống tập tin từ một thiết bị lưu trữ vào cây thư mục chính.
umount: ngược với lệnh mount.
2. Lệnh xem thông tin
cat /proc/cpuinfo: Tìm chi tiết kỹ thuật của CPU
cat /proc/meminfo: Bộ nhớ và trang đổi thông tin
lspci: Xem thông tin mainboard
uname -r: Xem hạt nhân phiên bản
gcc -v: Compiler phiên bản nào tôi đã cài đặt.
/sbin/ifconfig: Xem các địa chỉ IP của bạn.
netstat: xem tất cả các kết nối.
lsmod: Những gì được nạp module hạt nhân
last: xem những ai đã login vào hệ thống
df: Xem dung lượng ổ đĩa cứng
free -m: xem dung lượng sử dụng bộ nhớ
netstat -an |grep :80 |wc -l: xem có bao nhiêu kết nối đến cổng 80
3. Lệnh thao tác trên tập tin
ls: lấy danh sách tất cả các file và thư mục trong thư mục hiện hành.
pwd: xuất đường dẫn của thư mục làm việc.
cd: thay đổi thư mục làm việc đến một thư mục mới.
mkdir: tạo thư mục mới.
rmdir: xoá thư mục rỗng.
cp: copy một hay nhiều tập tin đến thư mục mới.
mv: đổi tên hay di chuyển tập tin, thư mục.
rm: xóa tập tin.
wc: đếm số dòng, số kí tự... trong tập tin.
touch: tạo một tập tin.
cat: xem nội dung tập tin.
vi: khởi động trình soạn thảo văn bản vi.
df: kiểm tra dung lượng đĩa.
du: xem dung lượng đĩa đã dùng cho một số tập tin nhất định
tar -cvzpf archive.tgz /home/example/public_html/folder: nén một thư mục
tar -tzf backup.tar.gz: liệt kê file nén gz
tar -xvf archive.tar: giải nén một file tar
unzip file.zip: giải nén file .zip
wget: download một file.
chown user:user folder/ -R: Đổi owner cho toàn bộ thư mục vào file.
tail 100 log.log: Xem 100 dòng cuối cùng của file log.log.
4. Lệnh khi làm việc trên terminal
clear: xoá trắng cửa sổ dòng lệnh.
date: xem ngày, giờ hệ thống.
find /usr/share/zoneinfo/ | grep -i pst: xem các múi giờ.
ln -f -s /usr/share/zoneinfo/Asia/Ho_Chi_Minh /etc/localtime: Đổi múi giờ máy chủ về múi giờ Việt Nam
date -s "1 Oct 2009 18:00:00": Chỉnh giờ
cal: xem lịch hệ thống.
5. Lệnh quản lí hệ thống
rpm: kiểm tra gói đã cài đặt hay chưa, hoặc cài đặt một gói, hoặc sử dụng để gỡ bỏ một gói.
ps: kiểm tra hệ thống tiến trình đang chạy.
kill: dừng tiến trình khi tiến trình bị treo. Chỉ có người dùng super-user mới có thể dừng tất cả các tiến trình còn người dùng bình thường chỉ có thể dừng tiến trình mà mình tạo ra.
top: hiển thị sự hoạt động của các tiến trình, đặc biệt là thông tin về tài nguyên hệ thống và việc sử dụng các tài nguyên đó của từng tiến trình.
pstree: hiển thị tất cả các tiến trình dưới dạng cây.
sleep: cho hệ thống ngừng hoạt động trong một khoảng thời gian.
useradd: tạo một người dùng mới.
groupadd: tạo một nhóm người dùng mới.
passwd: thay đổi password cho người dùng.
userdel: xoá người dùng đã tạo.
groupdel: xoá nhóm người dùng đã tạo.
gpasswd: thay đổi password của một nhóm người dùng.
su: cho phép đăng nhập với tư cách người dùng khác.
groups: hiển thị nhóm của user hiện tại.
who: cho biết ai đang đăng nhập hệ thống.
w: tương tự như lệnh who.
man: xem hướng dẫn về dòng lệnh như cú pháp, các tham số...
Tờ ghi nhớ lệnh Ubuntu/Debian/Linux bản tiếng Việt .
Đối với những người bắt đầu làm quen với Ubuntu/Linux, việc làm quen
với console/terminal cùng với hàng tá các lệnh là công việc khá khó
khăn. Dù cho mỗi lệnh đều tương đối đơn giản, nhưng để nhớ được số lượng
lớn, không lẫn lộn các lệnh, các tuỳ chọn là một điều không dễ gì thực
hiện trong thời gian ngắn.
Vì vậy chúng tôi hi vọng tờ ghi nhớ (sổ tay) dòng lệnh Ubuntu/Debian/Linux phiên bản tiếng Việt này sẽ giúp bạn dễ dàng làm quen, nhanh chóng nắm bắt được kỹ năng dùng lệnh trên Linux và áp dụng nó vào trường hợp cụ thể của bạn một cách hiệu quả nhât.
Nguồn : http://wikilinux.vn/to-ghi-nho-lenh-ubuntu-debian-linux-ban-tieng-viet/
Vì vậy chúng tôi hi vọng tờ ghi nhớ (sổ tay) dòng lệnh Ubuntu/Debian/Linux phiên bản tiếng Việt này sẽ giúp bạn dễ dàng làm quen, nhanh chóng nắm bắt được kỹ năng dùng lệnh trên Linux và áp dụng nó vào trường hợp cụ thể của bạn một cách hiệu quả nhât.
Tờ ghi nhớ Vi/Vim a->z .
Vi/Vim là một trong những trình biên soạn dòng lệnh mạnh và phổ biến nhất trên Unix/Linux .
Với tờ ghi nhớ Vi/Vim đã được việt hóa này sẽ giúp bạn làm quen, làm việc một cách hiệu quả hơn.
Nguồn : http://wikilinux.vn/cam-nang-vi-vim-a-z/
Với tờ ghi nhớ Vi/Vim đã được việt hóa này sẽ giúp bạn làm quen, làm việc một cách hiệu quả hơn.
Nguồn : http://wikilinux.vn/cam-nang-vi-vim-a-z/
Giới thiệu về Linux Control Groups (cgroups) .
Nhân Linux từ phiên bản 2.6.24 có tính
năng mới gọi là “control groups” thường được gọi là “cgroups”. Cgroups
cho phép bạn có thể cấp phát tài nguyên – như thời gian sử dụng CPU, bộ
nhớ hệ thống, băng thông mạng. Bạn có thể theo dõi cgroups, từ chối
cgroups sử dụng tài nguyên nhất định và ngay cả việc cấu hình lại
cgroups trên một hệ thống đang chạy.
Sử dụng cgroups, người quản trị hệ thống
có thể điều khiển các việc như cấp phát, ưu tiên, từ chối, quản lí và
theo theo dõi tài nguyên hệ thống. Tài nguyên phần cứng sẽ được chia sẽ
hiệu quả giữa các người dùng và tăng khả năng ổn định của hệ thống.
Tương tự như các tiến trình, cgroups có
cấu trúc phân cấp, những cgroups con (child) sẽ thừa hưởng các thuộc
tính từ cgroups cha (parent). Trong cgroups, các tài nguyên hệ thống
được gọi bằng thuật ngữ “subsystem” hay “resource controller” và các
tiến trình trên hệ thống được gọi là “task”.
Cgroups được tổ chức có cấp bậc, các child cgroup thừa hưởng các thuộc tính từ parent cgroup. Trên một hệ thống có thể có nhiều parent cgroup.
Các subsystem phổ phiến trên cgroups:
- cpu: sử dụng OS scheduler để cấp phát CPU cho các “task”.
- cpuacct: báo cáo về trình trạng sử dụng CPU của các “task”.
- cpuset: giới hạn việc sử dụng số lượng CPU trên hệ thống nhiều CPU.
- memory: giới hạn việc sử dụng bộ nhớ hệ thống.
- blkio: giới hạn việc truy cập nhập/xuất(I/O) đến các thiết bị như ổ đĩa cứng.
- net_cls: đánh số classid cho từng gói tin nhằm giúp Linux Traffic Controller(tc) có thể biết gói tin đến từ cgroup nào.
- net_prio: giới hạn băng thông mạng theo độ ưu tiên.
Cgroups được thiết kế theo bốn quy tắc sau:
- Quy tắc thứ 1: Một hệ thống cấp bậc(hierarchy) có thể một hoặc nhiều “subsystem” gắn vào.
- Quy tắc thứ 2: Một “subsystem” bất kì không thể gắn vào nhiều hơn một hệ thống cấp bật nếu một trong hệ thống cấp bật đó đang có một “subsystem” khác loại đang gắn vào.
- Quy tắc thứ 3: Mỗi “task” trên hệ thống chỉ được thuộc về một cgroup duy nhất trong cùng hệ thống cấp bậc.
- Quy tắc thứ 4: Khi một “parent task” (Process) tạo ra(fork) một “child task” thì “child task” này sẽ tự động nằm trong cgroup mà “parent task” đang thuộc về .
Tài liệu tham khảo:
Nguồn : http://mrhien.info/blog/gioi-thieu-ve-linux-control-groups-cgroups/
Tùy chỉnh lệnh sudo cho Ubuntu .
Giống như đa số những thành phần khác trên linux, lệnh
sudo cũng có sẵn rất nhiều tùy chọn tùy chỉnh cho người dùng, ví dụ như
chạy 1 lệnh mà không cần hỏi passoword, chỉ cho phép 1 người dùng nhất
định chạy những lệnh nhất định, …
Lệnh sudo được điều khiển từ file /etc/sudoers trong ổ đĩa hệ
thống. File này phải được chỉnh sửa bằng lệnh visudo (Lệnh để kiểm tra
cú pháp để đảm bảo rằng bạn ko làm hỏng file).
Đặt quyền cho từng tài khoản
Mặc định tài khoản được tạo ra khi cài mới Ubuntu là tài khoản
Administrator tức là có quyền sử dụng lệnh sudo. Sau đó từ tài khoản
admin bạn có thể tạo thêm bao nhiêu tài khoản tùy ý, có thể là tài khoản
Admin hoặc tài khoản User.
Bạn có thể chỉnh quyển cho từng người dùng ngay trong giao diện đồ
họa trong User Account Tool. Để mở bảng điều khiển, bấm chuột vào tên
tài khaonr của bạn ở góc trên bên phải màn hình, chọn User Accounts,
hoặc có thể search ngay trong Dash.
Bắt sudo quên mật khẩu của bạn ngay lập tức.
Mặc định, khi bạn thực thi quyền sudo, sudo sẽ nhớ mật khẩu của bạn
trong vòng 15 phút. Đấy là lý do bạn có thể thực hiện liên tiếp 1 đống
lệnh ngay sau đó mà không cần nhập mật khẩu. Tuy nhiên vì một lý do nào
đó người khác mượn máy bạn ngay sau đó, mật khẩu sudo vẫn tồn tại và
người đó có thể “làm hại” máy bạn. Lúc đó bạn sẽ cần sudo phải quên mật
khẩu ngay tức khắc khi 1 câu lệnh được thực thi và bạn sẽ cần lệnh sau:
sudo -k
Bắt sudo luôn hỏi mật khẩu
Giả sử có ai đó thường xuyên dùng máy bạn và bạn muốn sudo luôn hỏi
mật khẩu mỗi khi 1 câu lệnh được thực thi, bạn có thể tắt hoàn toàn chế
độ tự nhớ mật khẩu.
Chức năng này năng này nằm trong file /etc/sudoers. Chạy lệnh visudo để mở file tùy chỉnh này:
sudo visudo
Lệnh này sẽ tự động mở file /etc/sudoers bằng trình sửa text nano khá thân thiện.
Thêm dòng sau vào sau dòng Defaults
Defaults timestamp_timeout=0
Dùng tổ hợp phím ctrl+O để lưu, ctrl+X để thoát. Nano sẽ hỏi mật khảu bạn trước khi lưu.
Thay đổi thời gian hết hạn cho mật khẩu
Vẫn trong file sudoers, thêm dòng sau để thay đổi thời gian nhớ mật khẩu.
Default timestamp_timeout=5
Thay số 5 bằng thời gian bạn muốn (đơn vị phút).
Không bao giờ hỏi mật khẩu
Bạn có thể ra lệnh cho sudo không bao giờ hỏi mật khẩu nữa. Tất
nhiên là bạn phải đăng nhập, tất cả các lệnh sẽ được thực thi bằng quyền
root. Để làm điều này, thêm dòng sau vào file sudoers, thay username
bằng tên account cua bạn.
username ALL=(ALL) NOPASSWD: ALL
Bạn cũng có thể thay dòng %sudo để tất cả các tài khoản Admin khác không yêu cầu mật khẩu nữa.
%sudo ALL=(ALL:ALL) NOPASSWD:ALL
Chạy một số lệnh nhất đinh mà không cần dùng sudo
Bạn cũng có thể gán đặc quyền không hỏi mật khẩu cho một số lệnh
nhất định thay vì gán quyền cho tất cả các tài khoản. Ví dụ dòng sau sẽ
giúp lệnh apt-get và shutdown không hỏi mật khẩu, giúp bạn nhanh chóng
cài ứng dụng và tắt máy. Rất hữu ích đúng không nào. Thay username bằng
tên bạn muốn.
username ALL=(ALL) NOPASSWD: /usr/bin/apt-get,/sbin/shutdown
Chỉ cho phép người dùng nhất định chạy những lệnh nhất định
Bạn có thể chặn liệt kê ra một số lệnh và không cho User thực thi
lệnh đó với sudo. Ví dụ không cho user thực thi lệnh shutdown bằng quyền
sudo. Tuy nhiên, User có thể lách luật bằng cách dùng lệnh cp, copy
shutdown ra chỗ khác và thực thi nó mà không cần đến sudo.
Trong tình huống này, bạn có thể liệt kê một số lệnh nhất định mà 1 người chỉ có thể chạy.
standarduser ALL=/usr/bin/apt-get,/sbin/shutdown
Trong dòng configure này, người dùng với tên standarduser chỉ có thể chạy lệnh apt-get và shutdown.
Để xem một người dùng có thể thực thi những lệnh nào, sử dụng lệnh sau:
sudo -U standarduser –l
Ghi lại nhật kí sử dụng sudo (Logging)
Bạn có thể ghi lại nhật kí sử dụng sudo bằng cách thêm vào dòng sau:
Defaults logfile=/var/log/sudo
Trong đó /var/log/sudo là đường dẫn bạn muốn. Sau đó bạn có thể mở file này bằng các Text Editor bạn muốn.
Hãy nhớ rằng, nếu bạn không phân quyền sudo cho các User cẩn thận.
Họ có thể sửa hoặc xóa nội dung tệp tin. Tính năng logging sẽ rất hữu
ích khi bạn sử dụng chung máy tính với nhiều người.
Hãy chia sẻ các thủ thuật với GeekLinux trên fanpage facebook tại địa chỉ facebook.com/geeklinux.net
Tăng tốc cài đặt ứng dụng qua terminal bằng apt-fast .
Mặc định, Ubuntu nói riêng và Debian nói chung sử dụng
apt-get để quản lý các gói cài đặt. Apt-get rất tốt, nhưng bạn vẫn có
thể cải thiện tốc độ download hơn nữa với apt-fast. Apt-fast là một
script được viết bởi Matt Parnel (http://www.mattparnell.com/) cho pháp
bạn tăng tốc độ download khi cài đặt qua Terminal lên đến 26 lần (Tất
nhiên đó là về mặt lý thuyết, tốc độ còn phụ thuộc và đường truyền nhà
bạn nữa). Vậy nó hoạt động như thế nào? Script này sử dụng Axel, một ứng
dụng giúp tăng tốc download qua FTP hoặc HTTP. Sức mạnh của nó nằm ở
chỗ, nó khởi tạo cùng lúc nhiều kết nối đến một máy chủ, hoặc nhiều kết
nối đến nhiều máy chủ. Bạn có thể tưởng tượng nó có chút giống với
torrent, nó sẽ tải nhiều phần của tệp tin từ nhiều nguồn khác nhau một
cách đồng thời, giảm thiểu sự nghẽn mạng.
Trước tiên, bạn tải apt-fast tại đây.
File tải về sẽ có tên apt-fast.sh, các bạn đặt file này vào thư mục home cho tiện thao tác. Mở terminal lên, gõ lệnh sau.
Lệnh này sẽ di chuyển file này đến /usr/bin đồng thời đổi tên file thành apt-fast. Tiếp theo, di chuyển đến /usr/bin:
Và cấp quyền thực thi cho apt-fast:
Đến đây bạn đã có thể sử dụng apt-fast rồi đó. Cách dùng rất đơn giản, ví dụ thông thường bạn muốn cài đặt Wine, bạn sẽ gõ
Thì bây giờ, khi sử dụng apt-fast, bạn sẽ gõ
Chú ý khi khởi chạy lần đầu, apt-fast sẽ yêu cầu bạn cài Axel. Nhấn y để xác nhận bạn nhé.
Trước tiên, bạn tải apt-fast tại đây.
File tải về sẽ có tên apt-fast.sh, các bạn đặt file này vào thư mục home cho tiện thao tác. Mở terminal lên, gõ lệnh sau.
sudo mv apt-fast.sh /usr/bin/apt-fastLệnh này sẽ di chuyển file này đến /usr/bin đồng thời đổi tên file thành apt-fast. Tiếp theo, di chuyển đến /usr/bin:
cd /usr/binVà cấp quyền thực thi cho apt-fast:
sudo chmod +x apt-fastĐến đây bạn đã có thể sử dụng apt-fast rồi đó. Cách dùng rất đơn giản, ví dụ thông thường bạn muốn cài đặt Wine, bạn sẽ gõ
sudo apt-get install wineThì bây giờ, khi sử dụng apt-fast, bạn sẽ gõ
sudo apt-fast install wineChú ý khi khởi chạy lần đầu, apt-fast sẽ yêu cầu bạn cài Axel. Nhấn y để xác nhận bạn nhé.
Mặc định, Ubuntu nói riêng và Debian nói chung sử dụng
apt-get để quản lý các gói cài đặt. Apt-get rất tốt, nhưng bạn vẫn có
thể cải thiện tốc độ download hơn nữa với apt-fast. Apt-fast là một
script được viết bởi Matt Parnel (http://www.mattparnell.com/) cho pháp
bạn tăng tốc độ download khi cài đặt qua Terminal lên đến 26 lần (Tất
nhiên đó là về mặt lý thuyết, tốc độ còn phụ thuộc và đường truyền nhà
bạn nữa). Vậy nó hoạt động như thế nào? Script này sử dụng Axel, một ứng
dụng giúp tăng tốc download qua FTP hoặc HTTP. Sức mạnh của nó nằm ở
chỗ, nó khởi tạo cùng lúc nhiều kết nối đến một máy chủ, hoặc nhiều kết
nối đến nhiều máy chủ. Bạn có thể tưởng tượng nó có chút giống với
torrent, nó sẽ tải nhiều phần của tệp tin từ nhiều nguồn khác nhau một
cách đồng thời, giảm thiểu sự nghẽn mạng.
Trước tiên, bạn tải apt-fast tại đây.
File tải về sẽ có tên apt-fast.sh, các bạn đặt file này vào thư mục home cho tiện thao tác. Mở terminal lên, gõ lệnh sau.
Lệnh này sẽ di chuyển file này đến /usr/bin đồng thời đổi tên file thành apt-fast. Tiếp theo, di chuyển đến /usr/bin:
Và cấp quyền thực thi cho apt-fast:
Đến đây bạn đã có thể sử dụng apt-fast rồi đó. Cách dùng rất đơn giản, ví dụ thông thường bạn muốn cài đặt Wine, bạn sẽ gõ
Thì bây giờ, khi sử dụng apt-fast, bạn sẽ gõ
Chú ý khi khởi chạy lần đầu, apt-fast sẽ yêu cầu bạn cài Axel. Nhấn y để xác nhận bạn nhé.
Nguồn : http://geeklinux.net/tang-toc-cai-dat-ung-dung-qua-terminal-bang-apt-fast/
Trước tiên, bạn tải apt-fast tại đây.
File tải về sẽ có tên apt-fast.sh, các bạn đặt file này vào thư mục home cho tiện thao tác. Mở terminal lên, gõ lệnh sau.
sudo mv apt-fast.sh /usr/bin/apt-fastLệnh này sẽ di chuyển file này đến /usr/bin đồng thời đổi tên file thành apt-fast. Tiếp theo, di chuyển đến /usr/bin:
cd /usr/binVà cấp quyền thực thi cho apt-fast:
sudo chmod +x apt-fastĐến đây bạn đã có thể sử dụng apt-fast rồi đó. Cách dùng rất đơn giản, ví dụ thông thường bạn muốn cài đặt Wine, bạn sẽ gõ
sudo apt-get install wineThì bây giờ, khi sử dụng apt-fast, bạn sẽ gõ
sudo apt-fast install wineChú ý khi khởi chạy lần đầu, apt-fast sẽ yêu cầu bạn cài Axel. Nhấn y để xác nhận bạn nhé.
Nguồn : http://geeklinux.net/tang-toc-cai-dat-ung-dung-qua-terminal-bang-apt-fast/
Subscribe to:
Posts (Atom)

