Showing posts with label Linux Nói Chung. Show all posts
Showing posts with label Linux Nói Chung. Show all posts

Saturday, January 31, 2015

Sửa một số lỗi chung trong Linux .

GIT – CHÚ Ý: các khuyến nghị dưới đây phần lớn là thực hiện bằng các lệnh. Đó là vì các lệnh thì bản nào cũng cơ bản giống nhau. Cùng chức năng như các lệnh đó, mỗi bản có thể có chương trình đồ hoạ dễ làm hơn, bạn phải tự tìm lấy.

Một số lệnh dưới đây phải thực hiện với quyền của . và một số bản Linux có thể làm điều đó bằng cách thêm sudo vào trước lệnh. Với Mandriva, … thì trước tiên phải chạy lệnh su để chuyển sang root rồi mới chạy lệnh đã nêu (không cần sudo nữa).

Khôi phục boot menu (Distro fixes)

Các bản Linux khi cài đặt đều phát hiện được đã cài và thiết lập boot menu có cả Win và Linux để chọn khi khởi động. Nhưng nếu phải cài lại Win bị lỗi thì sau khi cài, boot menu bị xóa, máy sẽ boot thẳng vào Win không thấy Linux đâu nữa!

Đừng sợ: Win đã viết đè trình Grub bootloader bằng trình khởi động riêng của nó. Bản Linux đã cài vẫn còn nguyên. Chỉ cần tải lại cấu hình bootloader vào Master Boot Record (MBR) của ổ cứng. Trước tiên khởi động máy boot từ một đĩa Linux Live CD, mở terminal và chạy lệnh:

sudo grub-install /dev/sda
 
Lệnh trên đúng khi các hệ điều hành cài trên ổ cứng thứ nhất (hoặc ổ cứng duy nhất – /dev/sda). Trình grub-install sẽ phát hiện ra Grub đã có và khôi phục lại mọi thứ. Nếu không được, bạn phải cài thủ công như sau:
Chạy lệnh sudo grub (với Ubuntu, hoặc với Mandriva chạy lệnh su rồi chạy tiếp grub) để vào grub shell (dấu nhắc lệnh chuyển thành grub>). Trong grub shell chạy lệnh:

find /boot/grub/stage1
 
… để xác định xem partition nào có file Grub. Nếu Win cài trên partition 1 thì Grub sẽ nằm trên partition 2 và lệnh trên trả lại kết quả (hd0,1). Sau đó chạy tiếp ba lệnh:

root (hd0,1)
setup (hd0)
quit
 
Lệnh thứ nhất xác định boot partition, lệnh thứ hai ghi bootloader vào MBR, lệnh thứ ba để thoát khỏi Grub shell.

Dùng lệnh để phát hiện lỗi

Giao diện đồ họa thân thiện, dễ dùng nhưng khó phát hiện lỗi. Giao diện dòng lệnh (màn hình terminal) là nơi hiện lên chi tiết quá trình thực hiện một lệnh và các thông báo lỗi nếu có.

Khi thực hiện một số việc trong màn hình đồ họa (cài một phần mềm, chạy một phần mềm, …) có thể không có kết quả mà không hề có thông báo lỗi.
Khi đó, nếu biết lệnh tương ứng, mở terminal và chạy lệnh đó trong terminal sẽ có các thông báo lỗi hiện trên màn hình. Thậm chí cả khi đã chạy được một phần mềm, nhấn vào một nút lệnh trong màn hình đồ họa bị lỗi cũng có thể làm như trên: mở terminal, chạy lệnh theo tên phần mềm, để nguyên terminal vẫn mở, nhấn vào nút lệnh bị lỗi, quay lại đọc trên màn hình terminal có thể có thông báo lỗi.

Dùng Live CD để chẩn đoán lỗi.

Khi không boot trực tiếp vào Linux đã cài trên ổ cứng, vẫn có thể chạy Linux từ đĩa Live CD (hoặc Live DVD) mà không cần cài bất kỳ thứ gì vào ổ cứng. Các hướng dẫn dưới đây dùng Live CD của bản Linux Knoppix.
Còn một phương án nữa là dùng bản Linux System Rescue CD. Bản này nhỏ (dưới 250MB), có thể cài lên ổ USB, có giao diện đồ hoạ và một số công cụ sửa chữa, khôi phục.

Khi khởi động ngưng lại giữa chừng.

Trước đây, khi khởi động các hệ Linux cho hiện lần lượt hàng loạt text trên màn hình. Phần lớn người dùng bình thường không hiểu nổi những text đó. Nhưng nếu quá trình khởi động có lỗi bị dừng lại thì những dòng text cuối cùng có thể cho biết nguyên nhân lỗi.

Hiện nay, các bản Linux khi khởi động đều có màn hình đồ hoạ (splash) đẹp nhưng nếu quá trình boot bị lỗi thì màn hình đó không cho biết nguyên nhân.
Khi đó có thể thêm option noapic vào quá trình boot hoặc sửa file /boot/grub/menu.lst hoặc /boot/grub/grub.conf để cho hiện các thông báo text khi khởi động.
Làm tương tự, nếu quá trình shutdown có lỗi.

Từng bước: phát hiện lỗi khi boot

Bỏ màn hình splash:Knoppix: điểm sáng mục đầu trong boot menu, nhấn E để soạn thảo, chuyển con trỏ xuống dòng bắt đầu bằng từ “” nhấn E lần nữa. Bỏ các option liên quan đến quiet và splash, làm xong nhấn Enter rồi B để boot lại. 
Ubuntu, Mandriva, openSUSE: khi boot menu xuất hiện, dùng phím mũi tên chuyển thanh sáng xuống dòng Recovery Mode (với Ubuntu) hoặc Safe Mode (với Mandriva) hoặc Failsafe (với openSUSE) rồi Enter để khởi động tiếp.
(hoặc để thanh sáng ở hàng đầu tiên, nhấn F2, bên dưới màn hình xuất hiện Boot Options. Xoá các mục có từ quiet, splash rồi Enter để khởi động tiếp.)

Tìm vấn đề:
  • Theo dõi màn hình khởi động như trên để phát hiện lỗi khi quá trinh boot bị ngừng lại. thông báo lỗi để tìm cách giải quyết. Lỗi cũng có thể do không tương thích phần cứng: tháo các phần cứng không cần thiết rồi khởi động lại.

  • Nếu hệ thống khởi động được đến dấu  nhắc lệnh thì phần kernel không có lỗi. Gõ lệnh startx rồi Enter để vào chế độ đồ hoạ. Nếu đồ hoạ khởi động tốt thì lỗi thường nằm ở phần cấu hình của user (ở các chế độ recovery mode, … này đăng nhập theo user root). Xoá user đi tạo lại hoặc tạo user mới thường giải quyết được vấn đề.

Sửa các lỗi liên quan đến phần cứng.

Các driver cho phần lớn thiết bị phần cứng đã được cài khi cài Linux dưới dạng các kernel module. Hệ thống HAL/D-BUS sẽ nhận ra các thiết bị và tự động tải các driver module tương ứng vào bộ nhớ. Làm sao biết module nào đã được tải và nếu chưa thì giải quyết thế nào?

Phát hiện các phần cứng.

Để xem có các thiết bị nào kết nối vào các cổng PCI và USB, chạy các lệnh sau trong terminal:

sudo lspci
sudo lsusb
 
(lệnh trên dùng cho Ubuntu. Với Mandriva đầu tiên chạy lệnh su để chuyển sang user root, rồi chạy lệnh lspci và lsusb)

…lspci  sẽ cho ra kết quả tương tự như thế này:
00:1f.2 SATA controller: Corporation 82801HR/HO/HH (ICH8R/DO/DH) 6 port SATA AHCI Controller (rev 02)
01:00.0 VGA compatible controller: nVidia Corporation GeForce 7100 GS (rev a1)
02:00.1 IDE interface: JMicron Technologies, Inc. JMicron 20360/20363 AHCI Controller (rev 03)
03:00.0 Ethernet controller: Attansic Technology Corp. L1 Gigabit Ethernet Adapter (rev b0)
…hoặc như thế này (với lệnh lsusb):

Bus 001 Device 004: ID 03f0:2c17 Hewlett-PackardBus 004 Device 002: ID 051d:0002 American Power Conversion Uninterruptible Power SupplyBus 002 Device 002: ID 067b:2303 Prolific Technology, Inc. PL2303 Serial Port
Muốn xem thêm thông tin về một thiết bị, thêm các option -s và -v như sau:

sudo lspci -s 03:00.0 -v
sudo lsusb -s 001:004 -v
 
Ví dụ lệnh sudo lspci -s 02:00.0 -v  với một card mạng LAN sẽ cho kết quả như sau:

02:00.0 Ethernet controller: Realtek Semiconductor Co., Ltd. RTL8111/8168B PCI Express Gigabit Ethernet controller (rev 02)
Subsystem: Giga-byte Technology Device e000
Flags: bus master, fast devsel, latency 0, IRQ 17
I/O ports at d000 [size=256]
Memory at e1110000 (64-bit, prefetchable) [size=4K]
Memory at e1100000 (64-bit, prefetchable) [size=64K]
[virtual] Expansion ROM at e1120000 [disabled] [size=64K]
Capabilities: [40] Power Management version 3
Capabilities: [50] Message Signalled Interrupts: Mask- 64bit+ Queue=0/1 Enable-

Capabilities: [70] Express Endpoint, MSI 01
Capabilities: [b0] MSI-X: Enable- Mask- TabSize=2
Capabilities: [d0] Vital Product Data <?>
Capabilities: [100] Advanced Error Reporting <?>
Capabilities: [140] Virtual Channel <?>
Capabilities: [160] Device Serial Number 78-56-34-12-78-56-34-12

Kernel driver in use: r8169
Kernel modules: r8169

Thông tin trên cho biết (2 dòng cuối) driver của card mạng này là r8169 và driver này có trong môđun r8169. Một kernel module có thể có nhiều driver nên tên driver và tên module có thể khác nhau.

Ngoài công cụ dòng lệnh, có thể dùng các chương trình đồ hoạ (tương tự như Device Manager của Windows) để xem thông tin về phần cứng. Một số hệ Linux cài sẵn chương trình này (Mandriva, openSUSE), một số hệ khác phải cài thêm. Một trong những chương trình đó là Hardinfo.

Nếu một thiết bị nào không làm việc trong bộ Linux đã cài nhưng làm việc khi boot bằng Live CD thì vẫn trong chế độ Live CD, chạy lệnh lspci -k để xem thiết bị đó dùng module nào. Sau đó quay lại khởi động vào hệ Linux đã cài và thử tải module đó bằng lệnh:

modprobe -v modulename
 
Nếu lệnh trên không có thông báo lỗi nghĩa là module đã được tải vào bộ nhớ. Để kiểm tra, dùng lệnh lsmod (list module), trong danh sách hiện ra phải có module vừa tải bằng lệnh modprobe ở trên. Nếu có thông báo “device not present” nghĩa là thiết bị ứng với module đó không có, tức là trong lệnh modprobe trên ta chọn sai module.

Nếu thông báo là “module not found” nghĩa là trong nhân Linux không có module hỗ trợ thiết bị đang xét. Khi đó hoặc phải dịch lại kernel để kích hoạt module cần thiết hoặc chờ nâng cấp lên kernel mới hơn.

Kiểm tra version của linux kernel bản Live CD và bản Linux đã cài bằng lệnh sau:

uname -r
 
Nếu kernel của Live CD mới hơn, nâng cấp kernel của bản Linux đã cài lên (nếu có).

Một trường hợp nữa là thiết bị đang xét không có driver trong kernel mà phải dùng một driver bên ngoài cài thêm. Một số card wifi, máy in ở trường hợp này. Đầu tiên tìm các driver này trong các kho phần mềm của bản Linux, nếu không thấy phải tìm trên Internet.

Tải tự động các module.

Thông thường, Linux sẽ tự động nhận các thiết bị phần cứng và tải các module cần thiết khi khởi động. Trong trường hợp có một module cần thiết không tải tự động, ta có thể bắt nó tải như sau:

Trong Ubuntu, mở file /etc/modules rồi thêm tên module đó vào cuối file. Trong SUSE, mở file /etc/sysconfig/kernel đặt settings MODULES_LOADED_ON_BOOT:

MODULES_LOADED_ON_BOOT="module1 module2"
 
Trong Fedora, thêm một file script có đuôi là .modules vào thư mục /etc/sysconfig/modules/. Ví dụ cần tải module NdisWrapper, file /etc/sysconfig/modules/ndiswrapper.modules có nội dung như sau:

#!/bin/sh/sbin/modprobe ndiswrapper
 
Vì đó là file script nên cần phải gán cho nó thuộc tính chạy được (executable) bằng lệnh sau:

sudo chmod +x /etc/sysconfig/modules/ndiswrapper.modules

Đừng đổ mọi lỗi cho phần mềm.

Lỗi khó chẩn đoán nhất là những lỗi xảy ra ngẫu nhiên, nhất là khi nó gây treo máy hoặc tắt máy không có cảnh báo trước. Nếu lỗi xảy ra cùng vào một thời điểm hoặc khi dùng cùng một phần mềm thì còn có thể đoán được nguyên nhân, nhưng nếu nó xảy ra hoàn toàn ngẫu nhiên thì có thể là do phần cứng. Thông thường nhất là máy bị quá nóng, lỗi bộ nhớ hoặc bộ nguồn điện bị quá tải.

Cũng đừng có nghĩ rằng “lỗi này không xảy ra với hệ điều hành khác của tôi (ngụ ý Windows) vậy thì nó là lỗi của Linux rồi” vì các hệ điều hành làm việc với phần cứng theo những cách khác nhau. Ví dụ, Linux dùng bộ nhớ tích cực hơn do đó nếu bộ nhớ bị lỗi, Linux sẽ dễ mất ổn định hơn trước khi Windows để lộ ra triệu chứng. Quạt và các cánh tản nhiệt lâu ngày sẽ bị bụi và các chất bẩn khác bám làm giảm tác dụng, hãy định kỳ làm sạch. Cài gói phần mềm lm_sensors để theo dõi nhiệt độ CPU và case, cài những trình theo dõi hệ thống như GKrellM để hiện các thông số nhiệt độ trên desktop.

được thông gió tốt nhưng cũng nên kiểm tra các cửa thông gió tránh bị nghẽn. Nguồn của tương đối an toàn vì có pin đảm bảo cung cấp điện ổn định. Nhưng nguồn của desktop thì không chắc như vậy nhất là các bộ nguồn rẻ tiền, no-name đi cùng với các case giá rẻ. Do giảm giá nên một số bộ nguồn đó chỉ đáp ứng đúng tính năng khi còn mới. Vì vậy nên thử các bộ nguồn khác nhau, bạn có thể sẽ ngạc nhiên. Nguồn không tốt có thể làm hỏng phần cứng và dữ liệu, vì vậy tiết kiệm có thể là không tiết kiệm trong khi một bộ nguồn tốt có thể dùng được nhiều năm. Nếu nguồn điện nơi bạn ở không ổn định, một bộ lưu điện là đáng đầu tư. Thiết bị chống sốc điện chỉ chống sốc không chống được giảm điện áp.

Test bộ nhớ rất dễ dàng chỉ tốn thời gian. Phần lớn các đĩa Linux Live CD đều có menu test bộ nhớ. Cần phải boot máy bằng Live CD để dùng ít bộ nhớ nhất vì chỉ test được vùng bộ nhớ không sử dụng. Nên test trong chế độ full test ít nhất hai lần và có thể để chạy qua đêm. Càng test kỹ càng chắc là bộ nhớ OK. Nếu đã có lỗi thì nên thay bộ nhớ khác.

Card màn hình.

Các cách làm nói trên không áp dụng cho card màn hình. Các driver card màn hình nằm trong phần mềm X.org, trừ các card ATI hoặc Nvidia vừa có driver nguồn mở vừa có driver nguồn đóng của chính hãng (tốt hơn). Nếu cần các hiệu ứng 3D để chơi hay kích hoạt các hiệu ứng màn hình thì nên dùng driver chính hãng.

Nếu các driver chính hãng có trong kho phần mềm của bản Linux đang dùng thì cài từ đó dùng trình package manager là tốt nhất vì khi cài nó sẽ thay đổi cả file xorg.conf kiểm soát cấu hình đồ hoạ. Còn nếu phải tải driver từ site của hãng về thì cần đọc kỹ hướng dẫn cài đặt.

Mất màn hình đồ hoạ.

Sau khi đã cài đặt xong Linux, khởi động lại máy, thay vì màn hình đồ hoạ, bạn chỉ thấy màn hình đen xì với con trỏ nhấp nháy (hoặc màn hình đồ hoạ nhưng độ phân giải thấp, màu xấu, màn hình méo). Điều gì xảy ra? Thường nguyên nhân là vì chương trình cài đặt đã không tự phát hiện được đúng các thuộc tính của card màn hình và màn hình. Vì vậy phải cấu hình lại card màn hình, màn hình.
(Hiện tượng trên cũng xảy ra khi bạn chỉnh một số thông số của card màn hình, màn hình)

Dùng giao diện giòng lệnh.

Để cấu hình lại card màn hình, màn hình (và cả bàn phím, chuột), chạy các lệnh sau đây:
  • openSUSE – yast2
  • Debian – dpkg-reconfigure xserver-xorg
  • Ubuntu – sudo dpkg-reconfigure xserver-xorg
  • Mandriva – XFdrake
Các lệnh trên sẽ mở ra một giao diện text để cấu hình. Nếu bản Linux của bạn không có các lệnh trên thì dùng lệnh:

X -configure
 
Sau khi cấu hình xong, nếu vẫn còn ở giao diện dòng lệnh thì chạy lệnh sau để khởi động giao diện đồ hoạ:

startx
 
Nếu màn hình đồ hoạ vẫn không khởi động được thì tìm lỗi trong file:

/var/log/ Xorg.0.log
 
.trong đó những dòng có chứa cụm ký tự (EE) là thông báo lỗi. Có thể tìm nhanh thông báo lỗi bằng lệnh sau:
grep EE /var/log/Xorg.0.log

Nên dùng Ubuntu 32-bit hay 64-bit ? .

Trước khi Ubuntu 13.04 được ra mắt, trang tải xuống của Ubuntu vẫn khuyến cáo người dùng nên sử dụng phiên bản 32-bit của Ubuntu. Tuy nhiên, giờ đây, khuyến cáo này đã được Ubuntu gỡ bỏ bởi vì những PC thế hệ mới tương thích tốt hơn với nền tảng 64-bit.
 
32-bit vs 64-bit?
Cũng tương tự như Windows, Ubuntu 64 bit cũng có các ưu điểm…
 
  • SỬ dụng được nhiều RAM hơn. Với phiên bản 32-bit, bạn chỉ có thể dùng tối đa 4096MB (4GB) dung lượng RAM. Con số này trong thực tế là 3.12GB với Windows và 3.9GB với Ubuntu và các HĐH linux nói chung. Trên lý thuyết, 64-bit hỗ trợ tới 17 … tỷ GB RAM.
  • Tăng năng suất làm việc. Nếu RAM bạn đủ lớn để chạy HĐH 64-bit (tối thiểu 4GB), bạn sẽ nhận ra sự vượt trội về mặt hiệu năng so với nền tảng 32-bit.
  • Tăng khả năng phân phối bộ nhớ cho từng ứng dụng
  • Tăng cường bảo mật, chống cạn kiệt bộ nhớ cho nhân HĐH.
  • Vẫn có thể dùng chung ứng dụng 32-bit.
… và nhược điểm
  • Tương thích phần cứng: Đối với những phần cứng cũ, việc tìm driver hỗ trợ 64-bit cho thiết bị là điều rất khó khăn. Tuy nhiên trong vài năm trở lại đây, hầu hết các phần cứng đã hỗ trợ 64-bit nên điều này không còn đnags lo ngại.

  • Tương thích Flash: Adobe’s Flash plugin mới chỉ hỗ trợ nền tảng 32-bit, trong khi Ubuntu 64-bit lại đi kèm trình duyệt web 64-bit. Vì thế người dùng sẽ phải cài đặt song song một trình duyệt 32-bit nữa. Tuy nhiên, gần đây, Adobe cũng đã tung ra phiên bản Flash beta dành cho nền tnagr 64-bit. Trong tương lại gần, khi plugin này hoàn thiện, người dùng có thể hoàn toàn yên tâm sử dụng nền tảng 64-bit của Ubuntu.

  • Tương thích phần mềm: Như đã nói ở trên, 64-bit vẫn có thể chạy các ứng dụng 32-bit, tuy nhiên không phải tất cả. Vẫn có rất nhiều những ứng dụng chỉ phát triển cho nền tảng 32-bit, hoặc không thể dùng chung. Lý do chính của trở ngài này là do các thư viện di động của 32-bit không thể dùng cho 64-bit. Nếu bạn không thể tìm ra phiên bản 64-bit của nó, cách duy nhất là tìm ứng dụng thay thế.

  • Lỗi: Trước kia, khá ít người dùng sử dụng phiên bản 64-bit, chính vì thế nền tảng này tồn tại nhiều lỗi không được phát hiện ra. Tuy nhiên, gần đây, người dùng đã bắt đầu sử dụng phiên bản 64-bit (Do tương thích phần cứng với máy đời mới tốt hơn). Do đó, các lỗi đang được phát hiện và xử lý nhanh hơn.

 
Vậy tại sao nên chọn Ubuntu 64-bit?
 
Như đã phần tích ở trên, có rất nhiều những ưu điểm mà nền tảng 64-bit mang lại, đặc biệt là hiệu suất sử dụng và tăng cường bộ nhớ ảo cho ứng dụng. Hơn nữa các máy tính đời mới sử dụng Firmware UEFI không tương thích tốt với nền tảng 32-bit. Và nếu bạn chấp nhận được những nhược điểm, Ubuntu 64-bit sẽ là một lựa chọn không thể tốt hơn.
 
 
Khi nào nên chọn 32-bit, 64-bit?
 
Trừ khi chip của bạn hỗ trợ 64-bit, bạn chỉ nên cài Ubuntu 32-bit. Tuy nhiên, nếu máy tính của bạn không dùng UEFI firmare, chip vẫn hộ trợ 64-bits nhưng chỉ có 4gb RAM, lời khuyên của GeekLinux là bạn chỉ nên dùng Ubuntu 32-bit. Không như Windows chỉ nhận 3.12GB RAM, Ubuntu 32-bit vẫn sẽ nhận gần như đủ 4GB RAM của bạn.
 
Cách xác định CPU 32-bit hay 64-bit:
 
Trong Terminal, bạn gõ lệnh lscpu. Nếu dòng CPU op-mode(s) trả về giá trị 32-bit, 64-bit tức là máy bạn có thể chạy được nền tảng 64-bit.
 
 
 
 

6 điểm khác nhau trong cấu trúc tệp tin hệ thống giữa Windows và Linux .

File hệ thống của Linux có một vài điểm khác biệt so với Windows. Không có kí tự đánh dấu phân vùng (A B C …), không có dấu đổ sau (\), và bạn chắc hẳn bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy những file có tên giống nhau và chỉ khác 1 kí tự viết hoa thôi. Hãy cùng GeekLinux duyệt qua những điểm khác biệt đó nhé.
Cấu trúc thư mục hệ thống
Sẽ không có thư mục Windows, Program Files hay User khi bạn truy cập vào phân vùng hệ thống. (mặc dù vậy thư mục /home có thể khá giống với User của Windows). Cấu trúc thư mục trên Linux hoàn toàn khác. Ví dụ, thay vì các chương trình nằm gon trong C:\Program Files\, thì trên Linux, một ứng dụng được tập hợp từ các file nằm rải rác trong phân vùng hệ thống: các tệp nhị phân (binaries) sẽ nằm trong /usr/bin, các file thư viện (libraries) sẽ nằm tại /usr/lib, các file tùy chỉnh, thiết đặt (configuration) sẽ nằm tại /etc.
Phân biệt chữ hoa và chữ thường
Trên windows, bạn không thể đặt tên 1 file là “hello”, 1 file là “Hello” trong cùng 1 thư mục. Windows không phân biệt chữ hoa và thường, vì thế Windows coi Hello và hello là một.
Trên Linux, hệ thống phân biệt chữ hoa và chứ thương, vì thế bạn có thể có cá file tên “hello”, “Hello” và “HELLO” trong cùng 1 cấp thư mục.
Dấu đổ sau (\) và dấu đổ trước (/)
Windows sử dụng dấu đổ sau.
C:\Users\Name
Tính chất này được hiện hữu đậm nét trong MS-DOS (Hệ điều hành chạy giao diện dòng lệnh của Windows)
Trong khi Linux sử dụng dấu đổ trước
/home/name
Tuy nhiên, với những phiên bản Windows mới nhất, ranh giới giữ hai cách sử dụng này đã bị xóa mờ. Khi thực hiện thao tác nhập đường dẫn trên Windows, bạn có thể dùng cả dấu đổ trước và đổ sau, Windows vẫn sẽ nhận ra và thao tác giúp bạn.
Không có kí tự ổ đĩa (Driver letter), tất cả bắt đầu bằng /
Windows đánh dấu các phân vùng và các thiết bị bằng bảng chữ cái Alphabet. Mỗi ổ cứng, mỗi phân vùng hay thiết bị lưu trữ ngoài đều được dẫn từ một kí tự.
Trái lại, Linux không dùng ký tự cho các phân vùng. Tất cả được mount thành thư mục, và được dẫn bắt đầu từ thư mục gốc (root), kí hiệu là /, (Thực ra về bản chất, Windows cũng làm điều tương tự, chỉ khác trong cách biểu diễn cho người dùng) và không có thứ gì (thư mục hoặc file) nằm cao hơn / cả. Mặc định, các phân vùng và các thiết bị được Linux mount đến /media.
Đây là một trong những tính chất mở của Linux. Do tất cả các thiết bị đều được mount dưới / nên bạn cũng có thể mount chúng đi bất cứ nơi nào bạn muốn, ví dụ /home, thậm chí /myBackupDrive.
Mọi thứ đều là tệp tin
Cũng giống như việc phân vùng của bạn được mount thành 1 thư mục, mọi thứ trên linux đều được quy về dưới dạng tệp tin. Ví dụ như ổ cứng của bạn sẽ là /dev/sda, ổ quang của bạn là /dev/cdrom, thậm chí con chuột của bạn có thể là /dev/mouse.
Tất nhiên mọi thứ không thể là tệp tin được, tuy nhiên với cách nói hình ảnh như thế sẽ giúp bạn phần nào hiểu được nguyên lý hoạt động của Linux.
Bạn có thể sửa, xóa file ngay khi nó đang được dùng.
Trên Linux nói riêng hay các hệ điều hành nhân Unix nói chung (ví dụ: MacOS), các file không bị các ứng dụng khóa quyền truy cập như trên Windows. Ví dụ, khi bạn đang đang xem một bộ phim, bạn quay ra và thử xóa file phim đó. Nggay lập tức, bạn sẽ nhận được thông báo lỗi yêu cầu bạn phải tắt Windows Media Player trước khi bạn có thể sửa tên hay xóa bộ phim đó.
Còn nếu trên Linux, bạn thậm chí có thể sửa tên một bị phim ngay trong lúc bạn đang xem mà không bị Linux “phàn nàn” gì.
Những điểm khác nhau này gần như tương đồng giữa các hệ điều hành nhân UNIX. Tuy nhiên cũng có một số ngoại lệ, ví dụ MacOS (nhân UNIX) không phân biệt chữ hoa – thường (giống Windows).
Nếu bạn biết thêm những điểm khác nhau nào nữa, hãy mạnh dạn chia sẻ nhé.

Tìm hiểu về distro “ruột” của Edward Snowden .

TAILS là một distro dựa trên Debian 6, tập trung sâu vào tính riêng tư và bảo mật. Distro này, có thể nói, khá “trầm”, cho đến gần đây, khi vụ việc Edward Joseph Snowden (cựu điệp viên CIA) công bố các tài liệu mật của cục an ninh quốc gia Mỹ (NSA) cho giới truyền thông. (Các bạn có thể google thông tin chi tiết vụ việc).
 Tuy nhiên, điều đặc biệt ở chỗ, trong bản báo cáo điều tra của Mỹ được công bố, Snowden đã sử dụng TAILS OS để gửi các tài liệu mật nói riêng cũng như giao tiếp với thế giới nói chung. Rõ ràng việc một nhân viên CIA đặt niềm tin vào distro này cho thấy sức mạnh bảo mật của TAILS lớn đến nhường nào. Hãy cùng GeekLinux tìm hiểu sơ lược về distro được các mật vụ Mỹ gọi là “the King of high secure, low latency Internet Anonymity” này nhé.
Dự án TAILS ban đầu có tên Amnesia, được giới thiệu lần đầu tiên vào ngày 23 tháng 6 năm 2009. Và cách đây chỉ và ngày, phiên bản ổn định thứ 36 được công bố và cũng là phiên bản đánh dấu cột mộc 1.0 của distro này. Tổ chức phát triển nên distro này phát biêu rằng: “TAILS là một hệ thống chạy trực tiếp hướng đến tính riêng tư và sự nặc danh của người dùng. Nó giúp người dùng sử có thể sử dụng Internet trên bất cứ máy tính nào, vào bất cứ lúc nào, một cách nặc danh nhất, tránh khỏi mọi sự kiểm duyệt”.
TAILS được viết tắt bởi The Amnesic Incognito Live System, tạm dịch là Hệ thống che giấu trí nhớ chạy trực tiếp. Có thể nói “cái tên nói lên tất cả” những điểm mạnh của TAILS: chạy trực tiếp – không để lại dấu vết và bảo mật.
Live OS
Thứ nhất, về khả năng chạy trực tiếp, TAILS chú trọng mạnh vào tính năng này. TAILS chạy thẳng từ thiết bị gắn ngoài (DVD, USB, thẻ nhớ) hơn là chạy từ đĩa cứng, giúp mọi dấu vết được xóa sạch ngay khi người dùng thoát khỏi HĐH.
Bảo mật và riêng tư
Thứ hai là khả năng bảo mật. Tất cả mọi thứ đều được mã hóa, ngay cả clipboard. Nếu bạn biết về deepweb, chắc hẳn bạn cũng biết về trình duyệt “củ hành” – TorBrowser. Tất cả mọi giao tiếp của TAILS với thế giới mạng đều được đi qua Tor, giúp người dùng tránh khỏi việc bị dò dấu vết và sự kiểm duyệt. Email của bạn sẽ được bảo mật bằng công thức OpenPGP. Các đoạn chat cũng được bảo mật bằng công nghệ Off the record.

Kết hợp các tính năng đó lại, việc lần ra dấu vết người dùng trên TAILS là điều gần như không thể.
TAILS sử dụng giao diện Gnome 2.0 khá đơn giản với menu truyền thống của Debian. Distro này cũng được tích hợp sẵn một số theme, trong đó đáng chú ý nhất là theme Luna – giao diện Windows XP truyền thống với gợi ý là :”This may be useful in public place in order to avoid attracting suspicion” tạm dịch là “giúp bạn tránh khỏi những ánh mắt tò mò, đặc biệt là ở những nơi công cộng :D”.
Phiên bản 1.0 mới ra mắt được vá thêm rất nhiều lỗi, trong đó có lỗ hỏng bảo mật nổi tiếng “Heart Bleed” trên Tor. Theo một số nguồn tin, phiên bản 1.1 sẽ được ra mắt trong tháng 6 tới và sẽ được dựa trên debian 7.0. Hiện tại bạn có thể trải nghiệm phiên bản 1.0 tại đây
Một số ứng dụng được cài sẵn trong phiên bản 1.0
Ứng dụng mạng:
+ Firefox (Iceweasel) được tích hợp sẵn:
- Tor
- Bản vá lỗi TorBrowser
- Torbutton: chống lại các tấn công bằng JavaScript
- HTTPS Everywhere: Mã hóa hầu hết các web site bằng SSL
- Tất cả cookies hoạt động dựa theo quy tắc session
+ NetworkManager
+ Pidgin được tích hợp sẵn công nghệ OTR (Off-the-Record Messaging)
+ Claws Mail được tích hợp sẵn công nghệ GnuPG
+ Aircrack-ng: kiểm duyệt wifi
+ I2P: Nặc danh hóa mạng
[…]
Ứng dụng và công nghệ mã hóa:
LUKS and GNOME Disks: Mã hóa các thiết bị lưu trữ
GnuPG: mã hóa Email
PWGen: trình tạo mật khẩu ngẫu nhiên
Shamir’s Secret Sharing: Mã hóa dữ liệu chia sẽ
Florence virtual keyboard: bàn phím ảo chống keylogging
MAT: nặc danh hóa metadata trong tệp tin
KeePassX: trình quản lý mật khẩu
[…]
Và như mọi khi, hãy thử và cảm nhận …

“Tiến trình thây ma” (Zombie Process) trong HĐH Linux .

Nếu bạn là người dùng Linux, có thể bạn đã từng nhìn thấy những tiến trình (process) với cái tên khá lạ “Zombie”. Vâng, zombie nghĩa là thây ma tức là tiến trình đó đã chết và bạn không thể “kill” nó thêm 1 lần nữa. Thú vị đúng không nào.
Zombie thực chất là một phần còn sót lại của một tiến trình đã ngừng hoạt động nhưng chưa được xử lý sạch. Những chương trình sau khi thoát để lại tiến trình Zombie thì điều đó đồng nghĩa với việc chương trình đó được lập trình không tốt.
Vậy chính xác “tiến trình thây ma” được tạo ra như thế nào?
Muốn hiểu chính xác quá trình này, bạn cần có một chút hiểu biết về cách hoạt động của các tiến trình trong HĐH Linux. Một khái niệm bạn gần biết nữa là tiến trình cha mẹ (parent process) là tiến trình khi thực thi tạo ra các tiến trình khác.
Trong Linux, khi một tiến trình kết thúc, HĐH sẽ không xóa nó khỏi bộ nhớ ngay lập tức. Thay vào đó, Linux vẫn giữ lại mô tả tiến trình (process discriptor) trong bộ nhớ (Mô tả tiến trình chỉ chiếm một lượng nhỏ bộ nhớ). Lúc này, trạng thái của tiến trình sẽ là EXIT_ZOMBIE và “cha mẹ” của tiến trình đó được thông báo rằng tiến trình con đã “chết” với tín hiệu tên là SIGCHLD. Tiến trình cha mẹ sau đó có nghĩa vụ thực thi chức năng wait() với nhiệm vụ đọc trạng thái và thông tin của tiến trình đã chết đó. Sau khi chức năng wait() được gọi, tiến trình Zombie lúc này sẽ được xóa hoàn toàn khỏi bộ nhớ.
Quá trình này thường diễn ra khá nhanh, vì thế bạn sẽ không thể nhìn thấy những tiến trình thây ma. Tuy nhiên nếu tiến trình cha mẹ được lập trình cẩu thả và không bao giờ thực hiện chức năng wait(), tiến trình thây mà sẽ nằm lại trong bộ nhớ đến khi hệ thống được khởi động lại.
Để nhìn thấy những tiến trình thây ma, bạn cần cài đặt Top command hoặc PS command. (GNOME System Monitor không hiển thị tiến trình thây ma).
Nguy hiểm từ “tiến trình thây ma”
Tiến trình thây ma hầu như không sử dụng chút tài nguyên nào từ máy tính của bạn (hầu như bởi vì chúng chỉ chiếm một chút xíu dung lượng để lưu mô tả tiến trình). Tuy nhiên, mỗi tiến trình trong Linux đều được gán một mã số (PID). Tiến trình thây ma tuy là tiến trình chết nhưng vẫn đươc coi là một tiến trình và vẫn chiếm 1 PID. Linux có số lượng PID hữu hạn (ví dụ bản 32-bit có 32767 PID). Nếu tiến trình thây ma bị ứ đọng lại bộ nhớ quá nhiều – ví dụ một phần mềm dành cho máy chủ được lập trình ẩu, toàn bộ PID có thể bị chiếm hết trong một thời gian rất ngắn và không một tiến trình nào có thể bắt đầu được nữa.
Tuy nhiên, nếu chỉ có vài tiến trình thây ma sẽ không gây hại gì cho máy tính bạn.
Cách dọn dẹp tiến trình thây ma.
Như đã nói ở trên, bạn không thể “giết” tiến trình thây ma được vì bản chất chúng đã “chết” rồi. Cần nhớ rằng bạn không cần phải dọn dẹp tiến trình thây ma trừ khi chúng tràn ngập bộ nhớ của bạn, một cài cái sẽ không gây hại.
Cách thứ nhất là gửi tín hiệu SIGCHLD đến tiến trình cha mẹ. Tín hiệu này sẽ ra lệnh cho tiến trình cha mẹ thực hiện chức năng wait() và dọn sạch những “đứa con” đó. Gửi tín hiệu với lệnh kill, thay thế pid bằng ID của tiến trình cha mẹ:
kill -s SIGCHLD pid
Tuy nhiên, nếu các tiến trình cha mẹ không được lập trình kỹ lưỡng, nó thậm chí sẽ lờ đi tín hiệu SIGCHLD và câu lệnh trên là vô ích, bạn sẽ phải tự mình “kill” tiến trình cha mẹ. Khi một tiến trình tạo ra tiến trình thây ma bị giết, tiến trình với tên init sẽ thừa kế lại những tiến trình thây ma và trở thành tiến trình cha mẹ mới (init là tiến trình đầu tiên khởi động khi Linux khởi động, có PID là 1), sau đó init sẽ thực hiện định kỳ chức năng wait() để dọn dẹp. Bạn có thể khởi động lại tiến trình cha mẹ sau khi tắt chúng đi.
Còn nếu tiến trình cha mẹ lại tiếp tục sinh ra tiến trình thây ma, bạn sẽ cần biện pháp khác. Ví dụ thay vì gọi wait() định kỳ, bạn sẽ phải gọi Wait() theo nhu cầu. Nếu tiến trình thây ma vẫn tiếp tục được tạo ra dù bạn đã thử nhiều phương pháp, lúc này bạn sẽ cần gửi báo cáo cho nhà sản xuất phần mềm.

5 sai lầm về Linux có thể bạn chưa biết .

Đối với nhiều người dùng phổ thông, Linux là một cái gì đó huyền bí và đáng sợ, nghe đến Linux là đau đầu. Tuy nhiên những quan niệm về Linux từ trước đến nay của họ có đúng hay không? Hãy điểm qua 5 quan niệm sai lầm phổ biến nhất mà rất nhiều người dễ mắc phải.

  • Sai lầm đầu tiên (1): Linux là một hệ điều hành
Đầu tiên phải khẳng định rõ ràng, Linux không phải là một HĐH. Mà nó chính xác là là một nhân hệ điều hành (kernel), hoặc gọi một cách phổ thông là một nền tảng, là cầu nối giữa phần cứng và một hệ điều hành đúng nghĩa (đối với Linux ta thường gọi là các bản phân phối – Linux distribution), tạo môi trường cho các phần mềm được vận hành trơn tru. HĐH Android cũng được xây dựng và tùy biến dựa trên 1 phiên bản Linux. (Sau đây sẽ nói về Linux chạy trên máy tính cá nhân).


  • Sai lầm thứ 2: Rất khó tìm driver cho Linux
Nhiều người nghĩ rằng số lượng driver cho Linux là rất ít và khó tìm. Điều này chỉ đúng với một số trường hợp cụ thể, mà driver cho card đồ họa là trường hợp tiêu biểu nhất. Thực tế ta rất khó tìm thấy các bản build beta cho driver Forceware của nVIDIA và driver Catalyst của AMD, tuy nhiên với các bản chính thức thì lúc nào cũng có phiên bản cho Linux cả.

Ngoài trường hợp này ra, hầu như tất cả các nhà sản xuất hiện nay đều viết phiên bản Linux cho driver của mình. Chỉ trừ một số thiết bị quá cũ từ nhiều năm trước đã không còn được hỗ trợ nữa.

Tuy nhiên cần nói rõ, Linux gặp rắc rối với công nghệ Optimus trong MTXT ngày nay (công nghệ chuyển đổi tự động giữa GPU rời và GPU tích hợp của nVIDIA). Hãng này đã ngưng hỗ trợ công nghệ Optimus trong các bản driver Forceware chính thức cho Linux của mình. Việc không hỗ trợ này dẫn đến nhiều phiền toái cho người dùng, khi cả card tích hợp và card đồ họa rời đều cùng chạy, làm hao pin và thậm chí nhiều trường hợp còn bị dính Black Screen of Death (một dạng màn hình khi bị treo của Linux).

 Tuy nhiên, đây không phải là lỗi của Linux, mà là vấn đề của driver nVIDIA. Cộng đồng Linux đã liên tục yêu cầu nVIDIA công bố các thông số thiết kế về phần cứng của mình để cộng đồng mã nguồn mở có thể bắt tay vào viết driver cho Linux. AMD thì khác, họ không những công bố các thông tin này mà còn hỗ trợ tận tình cộng đồng mã nguồn mở để viết nên các bản driver cho Linux. Và nếu bạn đang dùng máy tính có Optimus trên Linux, hãy theo dõi dự án Bumblebee.


  • Quan niệm sai lầm thứ 3: Linux rất ít các phần mềm
Về số lượng phần mềm, dĩ nhiên Linux không bằng các nền tảng như Windows, nhưng với những ứng dụng phổ thông, và cả những công cụ lập trình chuyên nghiệp, Linux không hề thiếu. Nếu bạn cần trình xử lý ảnh, GIMP sẽ đáp ứng. Nếu bạn cần soạn văn bản, LibreOffice, Google Docs hoặc OpenOffice sẽ giúp bạn. Linux cũng có rất nhiều trò chơi, trình duyệt, biên tập video, xử lý hình vector, chat trực tuyến, các công cụ phát triển và rất nhiều thứ khác nếu bạn chịu khó tìm hiểu trong cộng đồng mã nguồn mở.

Tóm lại, những phần mềm nào bạn thường sử dụng trên Windows, thì bên Linux có thể tìm thấy cái tương tự.Tuy nhiên, có một số lĩnh vực Linux vẫn chưa đủ mạnh. Ryan Pierson, tác giả LockerGnome cho biết, các ứng dụng biên tập/xử lý video trên Linux vẫn chưa đủ khả năng để cạnh tranh với các ứng dụng bên Windows hoặc Mac OS X, sẽ không có Sony Vegas hoặc Adobe Premier trên Linux. Tương lai liệu sẽ có không? Câu trả lời tùy thuộc nhiều yếu tố: trông chờ khả năng biên dịch của cộng đồng mã nguồn mở hoặc trông chờ các công ty thương mại chú ý hơn đến Linux.

Cần lưu ý: Linux là một nền tảng mã nguồn mở, nhưng nó không đồng nghĩa với miễn phí. Ví dụ, bạn có toàn quyền lấy mã nguồn Linux về, biên tập, chỉnh sửa rồi tạo ra 1 HĐH nào đó, và thương mại hóa nó. Phần mềm cũng vậy, dù tác phẩm của bạn là mã nguồn mở thì bạn được quyền bán nó để thu tiền bình thường, không ai bắt buộc phải phân phối nó miễn phí.

Một nền tảng nhiều sắc màu, nhiều lựa chọn và hoàn toàn tự do
Khi nào thì họ sẽ chú ý hơn? Đã có rất nhiều hãng, nhất là các công ty về trò chơi, chú ý đến cộng đồng Linux như nền tảng Steam của Valve, cùng với nền tảng Unity đã hỗ trợ Linux … Có nhiều trò chơi hơn trên Linux sẽ đem lại nhiều tác dụng tích cực, vì gamer sẽ dễ chuyển sang dùng Linux từ Windows. Và khi nhiều người chuyển sang Linux hơn, các nhà phát triển sẽ chú ý và phát triển nhiều ứng dụng chuyên nghiệp hơn cho Linux, khi đó sẽ càng nhiều người dùng chuyển sang xài Linux. Người ta gọi đó là hiệu ứng “quả cầu tuyết”.
  • Sai lầm thứ 4: Linux có thị phần bé nhỏ
Cần phải nói rõ Linux có mặt ở khắp nơi, có thể sát bên mà ta không để ý. Hơn 90% số lượng siêu máy tính chuyên dụng sử dụng nền tảng Linux. Hơn ½ số lượng smartphone chạy Android, vốn dựa trên nhân Linux. Và hơn 60% số máy chủ web chạy trên các bản phân phối Linux.

Chỉ có ở mảng máy tính cá nhân, Linux không có thị phần đáng kể. Và chỉ có thể hy vọng khi số lượng người dùng tăng lên, các công ty phát triển ứng dụng sẽ chuyển sang hỗ trợ cho nền tảng Linux nhiều hơn. Một điều thú vị nữa là thỉnh thoảng trong các chiến dịch quyên góp tiền cho một phần mềm/dự án mã nguồn mở nào đó, cộng đồng Linux đôi lúc thường ủng hộ nhiều hơn phía Windows và Mac OS (tính trung bình số tiền trên mỗi đầu người).


  • Quan niệm sai lầm cuối cùng (5): Linux chỉ dành cho các nhà phát triển và người dùng cao cấp, tức là rất khó dùng!
Đây là cái sai lầm lớn nhất. Đúng là rất nhiều các nhà phát triển sử dụng Linux, nhưng các bản phân phối Linux hiện nay đã rất thân thiện, đẹp mắt và dễ dùng, Ubuntu là một ví dụ cụ thể. Đây là bản phân phối Linux phổ biến nhất hiện nay trên PC và giao diện đôi chỗ còn được đánh giá là thân thiện hơn cả Windows. Chỉ cần bỏ thời gian làm quen ban đầu, bạn sẽ dễ dàng làm chủ nền tảng này, tương tự như việc rất nhiều người dùng phổ thông có thể làm quen với Mac OS X khi chuyển từ Windows sang. Và Linux có đủ tất cả những gì bạn cần cho nhu cầu sử dụng thông thường.

Bạn nghĩ sao về giao diện này?
 
Tuy nhiên việc làm quen một nền tảng mới hoàn toàn thực sự là một khó khăn không dễ vượt qua, vì chúng ta vẫn dựa vào thói quen, tâm lý và định kiến, những gì đang tốt thì rất ngại phải thay đổi, đó là tâm lý chung. Nhiều người nói Linux khó dùng, đơn giản vì họ chưa thử bỏ thời gian để làm quen. Hãy thử làm quen với cách hoạt động của Linux, nó sẽ đem lại cho bạn nhiều trải nghiệm thú vị, biết đâu bạn sẽ có cái nhìn khác hoàn toàn về Linux, một trong những nền tảng quan trọng nhất (hiện nay) của nhân loại.

Nguồn : http://geeklinux.net/5-sai-lam-ve-linux-ma-ban-chua-biet/

Tuesday, January 27, 2015

Thiết lập kết nối điểm - điểm SSH .

Quản trị mạng 

 - Phiên bản OpenSSH 4.3 có giới thiệu một tính năng mới: khả năng tạo "Virtual Private Networks" trong khi hệ thống đang làm việc thông qua driver đường hầm (trước đây vẫn được gọi là driver "tun"). Khả năng này cho phép bạn có thể tạo một giao diện mạng để bắc cầu giữa hai đoạn mạng phân biệt về vật lý trong các location khác nhau. Bài viết này chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn cách sử dụng SSH để thiết lập các kết nối điểm – điểm bằng OpenSuse 11.0, sau đó có thể sử dụng thành phần này để tạo các tuyến nhằm tạo các mạng riêng ảo.


Workshop Setup 

Hình trên thể hiện cho bạn thấy những gì? Chúng tôi có hai OpenSuse 11.0 Router, Router 1 và Router2 nằm trong các location khác nhau. Router 1 được kết nối với “mạng màu xanh” 10.0.0.0/24 và Router 2 được kết nối với “mạng màu vàng” 192.168.33.0/24 thông qua Ethernet. Cả hai router đang cung cấp chức năng NAT và làm cho kết nối Internet có sẵn cho các máy khách kết nối.

Trong môi trường test của chúng tôi, cả hai router đều đang sử dụng giao diện “tun” (192.168.100.31/32) để thiết lập kết nối điểm điểm SSH.
Quan trọng! Hãy thay đổi IP này thành các địa chỉ có khả năng định tuyến trong thực tế!

Khi đường hầm được thiết lập, các máy tính trong “mạng vàng” sẽ có thể truy cập trực tiếp vào “mạng xanh” và ngược lại bằng một liên kết VPN an toàn.
Hãy lưu ý rằng bạn phải bảo vệ cả hai router bằng bộ lọc IP hoặc tường lửa trong môi trường thực của mình.

Bước 1: Chuẩn bị các router OpenSuse

Cài đăt một hệ thống cơ bản cho cả hai router. Hãy lưu ý rừng bạn không cần các môi trường desktop giống như KDE hoặc Gnome. Trong phần “Desktop Selection”, sử dụng Other – Minimal Server Selection (Text Mode) (xem hình bên dưới).

Cấu hình giao diện mang (eth0) trong Router 2 bằng các địa chỉ IP 192.168.33.1 và Router 1  -> 10.0.0.1. Net mask sẽ là 255.255.255.0 cho cả hai site.
Sau đó chúng ta có thể cấu hình router bằng cách sử dụng lệnh yast. Tuy  nhiên với mục đích test, bạn hãy vô hiệu hóa tường lửa đính kèm (built in).

Click image to open!
Click image to open!
Click image to open!
Click image to open!

Bước 2: Chuẩn bị router 1

Mở /etc/ssh/sshd_config bằng bộ soạn thảo ưa thích của bạn và sử dụng các dòng dưới đây:

PermitRootLogin yes            ## Line 41
PermitTunnel yes                ## line 111
RSAAuthentication yes        ## line 45           
PubkeyAuthentication yes   ## line 46


Restart ssh by using the following command:

/etc/init.d/sshd restart

Generating the key :

ssh-keygen –t rsa

store the key in:

/root/.ssh/id_rsa-vpn     ## no passphrase

Copy the public Key to Router2:

scp /root/.ssh/id_rsa-vpn.pub 192.168.100.32:/root/.ssh/

Remark: Please create the directory /root/.ssh/ on router 2 first.
   

Bước 3: Chuẩn bị Router 2

Start to configure sshd like you have done with Router1. 

Add the key you have received from router1 to the flle authorized_keys

cat /root/.ssh/id_rsa-vpn.pub > /root/.ssh/autorized_keys
Kiểm tra kết nối từ router 1 đến router 2. Nó cần làm việc mà không cần thẩm định mật khẩu.

ssh -i  /root/.ssh/id_rsa-vpn 192.168.100.32
 

Bước 4: Thiết lập kết nối điểm – điểm và tạo các tuyến
Tạo thiết bị TUN trên cả hai hệ thống:

ssh –w 0:0 –i /root/.ssh/id_rsa-vpn router2
Cấu hình các thiết bị mạng và thêm các tuyến mặc định cho cả hai hệ thống như sau:

Router 1:

modprobe tun
ifconfig tun0 up
ifconfig tun0 192.168.100.31 pointopoint 192.168.100.32 netmask 255.255.255.0
route add –net 192.168.33.0 netmask 255.255.255.0 gw 192.168.100.32 tun0
echo “1” > /proc/sys/net/ipv4/ip_forward
 

Router 2:

modprobe tun
ifconfig tun0 up
ifconfig tun0 192.168.100.32 pointopoint 192.168.100.31 netmask 255.255.255.0
route add –net 10.0.0.0 netmask 255.255.255.0 gw 192.168.100.31 tun0
echo “1” > /proc/sys/net/ipv4/ip_forward
 
Click image to open!
Click image to open!

Bước 5: Test kết nối

SSH là một chương trình rất linh hoạt và nó có sự hỗ trợ built-in cho việc tạo một VPN bảo mật để thực hiện điều đó. Ý tưởng thực hiện điều đó là để tất cả các lưu lượng từ mạng màu xanh sang mạng màu vàng được định tuyến thông qua một máy chủ điều khiển xa bằng một kết nối VPN an toàn. Chúng ta sẽ sử dụng Wireshark để test vấn đề này.

Test 1: Ping máy trạm với địa chỉ IP 192.168.33.2 (mạng màu vàng) từ Mail server với địa chỉ IP 10.0.0.3 (mạng màu xanh).
Test2: Thử truy âcpj vào web bằng cách chạy trên máy chủ với địa chỉ IP 10.0.0.2 (mạng màu xanh) từ máy trạm có địa chỉ IP 192.168.33.2 (mạng màu vàng)

Trong cả hai trường hợp, chúng tôi đều thấy các gói đã được mã hóa giống như hiển thị trong hình bên dưới.

Click image to open!

Bước 6: Tạo kịch bản để khởi động đường hầm tự động

Có nhiều cách khác có thể thiết lập được kết nối điểm điểm SSH và tự động quá trình thực hiện, tuy nhiên chúng tôi sẽ dừng ở đây như một ví dụ cho các độc giả. Nếu bạn không rành mạch về cách bắt đầu, hãy download các file ví dụ và điều chỉnh nó cho theo yêu cầu của bạn. ftp://ftp.heise.de/pub/ct/listings/0821-170.zip

Gia đình nhà RPM , Fedora , openSUSE , CentOS: Bạn chọn ai ?

Fedora , openSUSE , CentOS thuộc họ hàng nhà linux , là những Linux distros trong số hàng trăm các bản phân phối linux có trên thị truờng hiện nay , và là 3 cái tên trên đuợc nhắc đến nhiều nhất trong “gia đình nhà RPM” . Gọi là gia đình nhà RPM vì cả 3 đều sử dụng gói cài đặt có đuổi là .rpm , cũng giống như “Gia đình nhà DEB” gồm debian , ubuntu , linux mint sử dụng gói .deb

gia-dinh-linux-chim-canh-cut-linux-
Chúng ta cùng tìm hiểu về 3 cái tên trong gia đình nhà RPM Nhé

1. Fedora


fedora

fedora anh em việt nam hay dịch là “phê đờ ra” cho dễ nhớ , Fedora đuợc coi là nguời anh cả trong gia đình RPM , cũng như bên phía bên kia chiến tuyến thì debian là nguời anh lớn nhất trong nhà DEB .
Vì sao fedora đuơc coi là người anh cả ? fedora được thiết kế từ đầu mà không dựa trên một distros nào khác , và có rất rất nhiều các bản phân phối khác dựa trên fedora , fedora đuợc bảo trợ bởi tập đoàn Red Hat . fedora luôn ra các bản cập nhật sớm nhất , phải nói là trong nhà RPM thì nó đuợc trang bị cách tính năng tiên tiến sớm nhất . sau đó một thời gian thì các nguời anh em khác mới có thể tiếp cận

2. openSUSE


opensudesktop

Rất giống với fedora nhưng mỗi phiên bản có chu kỳ phát triển rất lâu , do vậy các bản phát hành luôn có sự ổn định , openSUSE cũng sử dụng gói rpm nhưng chú ý là nếu một gói cài đặt rpm cho fedora chưa chắc đã tương thích với openSUSE và ngược lại .
OpenSUSE mặc định sử dụng giao diện KDE chứ không sử dụng mặc định là GNOME như fedora và centos :)

3. CentOS


centos6_desktop

Quá quen thuộc đúng không ạ . Centos viết tắt của chữ Community Enterprise OS , centos đuợc chỉnh sửa lại từ source của Red Hat Enterprise Linux ( RHEL ) một bản phân phối có phí của hãng Red Hat , RHEL tuy là một bản phân phối có phí nhưng bị dàng buộc bởi giấy phép GNU/Linux cho nên Red Hat bắt buộc phải công khai cái source ra và từ đó một nhóm lấy về và phát triển thành các bản centos mà chúng ta đang dùng , RHEL cứ phát hành ra một phiên bản mới là ngay sau đó centos cũng có sau một thời gian nhưng là free :)

Centos thiên về lĩnh vực máy chủ nhưng tới phiên bản Centos 7 thì trên desktop cũng rất thân thiện và đuợc hỗ trợ nhiều hơn trên desktop

P/S : Theo wiki . Trong tháng 7/2010 CentOS đã vượt qua Debian trở thành bản phân phối Linux phổ biến nhất cho máy chủ web, với gần 30% của tất cả máy chủ web Linux sử dụng nó. tuy nhiên vào tháng 1/2012, sau một cuộc đua đối đầu, nó bị mất vị trí dẫn đầu vào tay Debian

Vì lý do centos đuợc viết từ mã nguồn của RHEL do vậy mọi chuơng trình chạy trên RHEL đều tuơng thích với centos
Ngoài ra chu kỳ phát hành của centos rất lâu do vậy centos rất tin cậy sử dụng trên môi truờng máy chủ .

TÓM LẠI :

Trên desktop Bạn đã trải nghiệm với ubuntu , debian … với gia đình nhà deb ? Thì cũng nên thử với gia đình nhà RPM  , nó cũng có khá nhiều thú vị để khám phá , đặc biệt nếu bạn đã sử dụng trên máy chủ với centos thì hãy thử cài đặt một bản linux trong gia đình nhà RPM  như Centos và cài đặt HZserver để quản lý VPS  , có thể bạn sẽ thấy thích thú về nó đấy :)

Source : https://hostingaz.vn/2691-gia-dinh-nha-rpm-fedora-opensuse-centos-ban-chon-ai.html

Sunday, January 25, 2015

Linux performance cheatsheet .

Nguồn : http://wikilinux.vn/category/linux-basic/

Linux là gì ? Lịch sử phát triển của Linux.

I. LINUX LÀ GÌ


Linux là một hệ điều hành máy tính giống Unix (Unix-Like) được phát được phát triển dựa vào mô hình “Phần mềm tự do” và việc phát triển phần mềm mã nguồn mở. Thành phần cơ bản của Linux là hạt nhân Linux (thường được gọi là nhân Linux – Linux kernel), là nhân hệ điều hành được phát triển bởi Linus Torvalds được công bố lần đầu tiên vào tháng 9 năm 1991 với phiên bản 0.01.

II. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA LINUX


1.Lịch sử của Unix
  • Năm 1965, Viện công nghệ Massachusetts (MIT: Massachusetts Institute of Technology) và Phòng thí nghiệm Bell của hãng AT&T thực hiện dự án xây dựng một hệ điều hành có tên gọi là Multics (MULTiplexed Information and Computing Service) với mục tiêu: tạo lập được một hệ điều hành phủ trên vùng lãnh thổ rộng (hoạt động trên tập các máy tính được kết nối), đa người dùng, có năng lực cao về tính toán và lưu trữ. Dự án nói trên thành công ở mức độ hết sức khiêm tốn và người ta đã biết đến một số khiếm khuyết khó khắc phục của Multics.
  • Năm1969, Ken Thompson, một chuyên viên tại phòng thí nghiệm Bell, người đã tham gia dự án Multics, cùng Dennics Richie viết lại hệ điều hành đa-bài toán trên máy PDP-7 với tên là UNICS (UNiplexed Information and Computing Service) từ một câu gọi đùa của một đồng nghiệp. Trong hệ điều hành UNICS, một số khởi thảo đầu tiên về Hệ thống file đã được Ken Thompson và Dennis Ritchie thực hiện. Đến năm 1970 hệ điều hành được viết trên assembler cho máy PDP-11/20 và mang tên là UNIX.
  • Năm 1973, Riche và Thompson viết lại nhân của hệ điều hành UNIX trên ngôn ngữ C, và hệ điều hành đã trở nên dễ dàng cài đặt tới các loại máy tính khác nhau; tính chất như thế được gọi là tính khả chuyển (portable) của UNIX. Trước đó, khoảng năm 1971, hệ điều hành được thể hiện trên ngôn ngữ B (mà dựa trên ngôn ngữ B, Ritche đã phát triển thành ngôn ngữ C).
  • Hãng AT&T phổ biến chương trình nguồn UNIX tới các trường đại học, các công ty thương mại và chính phủ với giá không đáng kể.
  • Năm 1982, hệ thống UNIX-3 là bản UNIX thương mại đầu tiên của AT&T.
  • Năm 1983, AT&T giới thiệu Hệ thống UNIX-4 phiên bản thứ nhất trong đó đã có trình soạn thảo vi, thư viện quản lý màn hình được phát triển từ Đại học Tổng hợp California, Berkley.
  • Giai đoạn 1985-1987, UNIX-5 phiên bản 2 và 3 tương ứng được đưa ra vào các năm 1985 và 1987. Trong giai đoạn này, có khoảng 100000 bản UNIX đã được phổ biến trên thế giới, cài đặt từ máy vi tính đến các hệ thống lớn.
  • Đầu thập kỷ 1990. UNIX-5 phiên bản 4 được đưa ra như là một chuẩn của UNIX. Đây là sự kết hợp của các bản sau:
  1. AT&T UNIX-5 phiên bản 3,
  2. Berkley Software Distribution (BSD),
  3. XENIX của MicroSoft
  4. SUN OS
Các nhóm nhà cung cấp khác về UNIX đang hoạt động trong thời gian hiện nay được kể đến như sau:
  • Unix International (viết tắt là UI). UI là một tổ chức gồm các nhà cung cấp thực hiện việc chuyển nhượng hệ thống UNIX-5 và cung cấp bản AT&T theo các nhu cầu và thông báo phát hành mới, chẳng hạn như điều chỉnh bản quyền. Giao diện đồ họa người dùng là Open Look.
  • Open Software Foundation (OSF). OSF được hỗ trợ bởi IBM, DEC, HP … theo hướng phát triển một phiên bản của Unix nhằm tranh đua với hệ thống UNIX-5 phiên bản 4. Phiên bản này có tên là OSF/1 với giao diện đồ họa người dùng được gọi là MOTIF.
  • Free SoftWare Foundation (FSF): một cộng đồng do Richard Stallman khởi xướng năm 1984 chủ trương phát hành các phần mềm sử dụng tự do, trên cơ sở một hệ điều hành thuộc loại UNIX
2. Lịch sử Linux.

- Ngày 5/4/1991, Linus Torvalds, chàng sinh viên 21 tuổi của trường Đại học Helsinki, Phần Lan đã bắt tay vào viết những dòng lệnh đầu tiên của Linux.


Linus Torvalds, “cha đẻ” của Linux
- Tháng 8/1991, Torvalds gửi đi thông điệp đã trở thành nổi tiếng sau này về sự ra đời của Linux: “Tôi đang làm một hệ điều hành miễn phí (chỉ làm theo sở thích, và sẽ không lớn và chuyên nghiệp)”. Ngay chính Torvalds cũng không ngờ đến sự thành công của Linux như ngày hôm nay.

- Tháng 9/1991, phiên bản Linux 0.01, phiên bản Linux đầu tiên được Torvalds công bố, với 10.239 dòng lệnh. Phiên bản 0.02 được ra mắt 1 tháng sau đó.

- Năm 1992, Torvals đã có một quyết định được cho là đúng đắn khi phát hành Linux dưới dạng mã nguồn mở của giấy phép GPL, cho phép tất cả mọi người có quyền download về để xem mã nguồn để cung chung tay phát triển. Đây được xem là quyết định đã giúp Linux có được sự phổ biến như ngày nay.

- Năm 1993, Slackware, hệ điều hành đầu tiên phát triển dựa trên mã nguồn Linux được ra đời. Slackware là một trong những hệ điều hành Linux đầu tiên và có tuổi đời lâu nhất hiện nay. Phiên bản mới nhất của Slackware được công bố vào tháng 5/2010.


Slackware, hệ điều hành đầu tiên được ra mắt dựa trên nền tảng Linux
  • Ngày 14/3/1994, sau 3 năm làm việc miệt mài, Torvalds cho ra mắt phiên bản hoàn thiện đầu tiên, Linux 1.0 với 176.250 dòng lệnh. 1 năm sau đó, phiên bản 1.2 ra mắt với 310.950 dòng lệnh.
  • Ngày 3/11/1994, Red Hat Linux, phiên bản 1.0 được giới thiệu. Đây là một trong những hệ điều hành được thương mại hóa đầu tiên dựa trên Linux.
  • Năm 1996, Linus Torvalds ghé thăm công viên hải dương học, tại đây, ông đã quyết định sử dụng hình ảnh chú chim cánh cụt để làm biểu tượng chính thức của Linux.

Chú chim cánh cụt là biểu tương quen thuộc của Linux
  • Năm 1998, Linux bắt đầu được các “ông lớn” công nghệ quan tâm và đầu tư để phát triển. Nổi bật trong số đó là IBM. Công ty này đã đầu tư hàng tỉ USD để phát triển các dịch vụ và phần mềm trên nền tảng Linux, với đội ngũ nhân viên phát triển hơn 300 người. Ngoài IBM, Compaq và Oracle cũng bắt đầu đầu tư và phát triển Linux.
  • Năm 2005, Linus Torvalds được xuất hiện trên trang bìa của tạp chí về kinh tế BusinessWeek, với câu chuyện về sự thành công của hệ điều hành Linux.
  • Năm 2007, hàng loạt hãng sản xuất máy tính lớn như HP, ASUS, Dell, Lenovo bắt đầu bán ra các sản phẩm laptop được cài đặt sẵn Linux.
  • Tính đến thời điểm hiện tại, Linux đã có rất nhiều biến thể và phiên bản khác nhau, được xây dựng và phát triển riêng biệt bởi các công ty phần mềm và các cá nhân. Nổi bật trong số đó chính là hệ điều hành di động Android của Google, hiện là một trong những hệ điều hành thông dụng nhất hiện nay.

Android, một trong những hệ điều hành thành công nhất phát triển trên nền tảng Linux
  • Đến tháng 1/2009, số người dùng Linux trên toàn cầu đạt mốc 10 triệu người.
  • Hiện nay, sau 20 năm tồn tại và phát triển, Linux được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới, trên các máy tính cá nhân, các máy chủ, đến các thiết bị di động, máy nghe nhạc, máy tính bảng, các máy ATM và thậm chí trên cả các siêu máy tính…
  • Từ phiên bản đầu tiên với hơn 10 ngàn dòng lệnh, ngày 14/3/2011, sau 20 năm tồn tại và phát triển, nền tảng Linux 2.6.38 được phát hành, với 14.294.493 dòng lệnh, đánh dấu một chặng đường tồn tại và phát triển lâu dài của Linux.
  • Ngày nay, Linux được xem là biểu tượng của sự chia sẻ cộng đồng, được phát triển bởi cộng đồng và được ủng hộ vì hoàn toàn miễn phí. Linux được xem là sự đối địch của Windows (Microsoft), bởi nhiều người cho rằng, với Microsoft tất cả chỉ có lợi nhuận.
        Nguồn : http://wikilinux.vn/linux-la-gi-lich-su-phat-trien-cua-linux/


Căn bản về các hệ điều hành Linux và những bản cập nhật mới nhất P2 .

2.Fedora

Fedora Core là một Bản phân phối Linux dựa trên RPM Package Manager, được phát triển dựa trên cộng đồng theo "Dự án Fedora (Fedora Project) và được bảo trợ bởi Red Hat.


Dự án Fedora nhắm tới mục đích tạo ra một hệ điều hành mã nguồn mở hoàn chỉnh để sử dụng cho các mục đích tổng quát. Fedora được thiết kế để có thể dễ dàng cài đặt với chương trình cài đặt mang giao diện đồ họa. Các gói phần mềm bổ sung có thể tải xuống và cài đặt một cách dễ dàng với công cụ yum. Các phiên bản mới hơn của Fedora có thể được phát hành mỗi 6 hoặc 8 tháng.
Tên gọi Fedora Core là nhằm mục đích phân biệt giữa gói phần mềm chính của Fedora với các gói phần mềm phụ trội, bổ sung cho Fedora.
Hỗ trợ kỹ thuật của Fedora đa số là đến từ cộng đồng (mặc dù Red Hat có hổ trợ kỹ thuật cho Fedora nhưng không chính thức).
Fedora còn được gọi là Fedora Linux, nhưng đây không phải là tên gọi chính thức của nó.


a) Các đặc điểm

 
Fedora Core sử dụng GNOME như môi trường đồ hoạ mặc định. Bên cạnh đó người dùng có thể lựa chọn các môi trường làm việc khác KDE, XFCE hay đơn giản hơn nữa là trình quản lý cửa sổ như icewm hay fluxbox,...


Một số công cụ quản trị của Fedora Core được viết bằng Python - một ngôn ngữ kịch bản hướng đối tượng, ví dụ điển hình là công cụ YUM, dùng để quản lý và cài đặt các gói phần mềm theo định dạng RPM
Phiên bản mới nhất : Fedora 11
Fedora 11 (tên mã là Leonidas) đã chính thức ra mắt. Phiên bản mới được tích hợp nhiều công nghệ phần mềm nguồn mở và miễn phí mới nhất.


Sau đây là một số thay đổi chính của phiên bản lần này:


*Volume Control : Thay vì phải qua nhiều mixer ở các ứng dụng để thiết lập âm thanh từ nhiều nguồn như các bản trước, lần này Fedora 11 đặt tất cả vào pluse Audio để người dùng có thể thiết lập với giao diện duy nhất. Cải tiến này tiện lợi hơn cho người sử dụng mới nhưng gây xáo trộn với người có kinh nghiệm.


* Inter, ATI, NVIDIA KMS : Ở Fedora 10, KMS chỉ hỗ trợ một số card đồ hoạ của ATI để tăng tốc đồ hoạ. Lần này KMS hổ trợ nhiều card đồ hoạ khác của Inter và NVIDIA.


*Fingerprint : Được tích hợp vào phiên bản lần này của Fedora nhưng thật sự chức năng này chưa thật hoàn chỉnh, người dùng sẽ phải đăng kí " vân tay " của mình khi tao tài khoản sử dụng . Tuy nhiên thực sự đây là bước tiến của Linux trên desktop.


*Presto : Thông thường khi tải về một gói cập nhật thì người dùng phải tải toàn bọ gói cài đặt đó, mặc dù nội dung gói cập nhận không hoàn toàn khác với gói phiên bản gốc. Pressto cho phép người dùng tải về những phần khác nhau của hai lần cập nhật . Điều này giúp giảm dung lượng tải về khoảng 60-80%.


* Ext4 filesystem. Hệ thống file mới giúp hệ thống hoạt động tốt hơn, kiểm tra các file hệ thống nhanh hơn, tăng tốc đôj xoá file.


*MinGW : Fedora 11 cung cấp MinGW giúp người dùng có thể phát triển phần mềm dành cho windows ngay trên Fedora 11. Các nhà phát triển có thể tập trung vào phần mềm của mình mà không cần quan tâm về vấn để thư viện application stack.


Một số phần mềm được tích hợp sẵn trong lần phát hành này của Fedora:
* Firefox 3.5
* Gnome 2.26
* Python 2.6
*Tger VNC
* Xfce 4.6
* Xsever 1.6
* RPM 4.7


Nguồn : https://sites.google.com/site/mithuatonline88/home/truyen-cuoi/cn-tt/can-ban-ve-cac-he-dieu-hanh-linux-va-nhung-ban-cap-nhat-moi-nhat/can-ban-ve-cac-he-dieu-hanh-linux-va-nhung-ban-cap-nhat-moi-nhat-p2

Căn bản về các hệ điều hành Linux và những bản cập nhật mới nhất .


Để góp phần phát triển box "Non-Windows" mới được tách ra, bài viết này sẽ giới thiệu khái quát về Lunix và các bản phân phối mới nhất những hệ điều hành phổ biến thuộc họ Linux.
Bài viết sử dụng nhiều tư liệu và các bài viết khác từ Wikipedia và các cộng đồng mở, topic chỉ có tính tổng hợp.

Phần I: Hiểu biết căn bản về Linux.

1.Linux
Linux là tên gọi của một hệ điều hành máy tính và cũng là tên hạt nhân của hệ điều hành. Nó có lẽ là một ví dụ nổi tiếng nhất của phần mềm tự do và của việc phát triển mã nguồn mở.

Phiên bản Linux đầu tiên do Linus Torvalds viết vào năm 1991, lúc ông còn là một sinh viên của Đại học Helsinki tại Phần Lan. Ông làm việc một cách hăng say trong vòng 3 năm liên tục và cho ra đời phiên bản Linux 1.0 vào năm 1994. Bộ phận chủ yếu này được phát triển và tung ra trên thị trường dưới bản quyền GNU General Public License. Do đó mà bất cứ ai cũng có thể tải và xem mã nguồn của Linux.

Một cách chính xác, thuật ngữ "Linux" được sử dụng để chỉ Nhân Linux, nhưng tên này được sử dụng một cách rộng rãi để miêu tả tổng thể một hệ điều hành giống Unix (còn được biết đến dưới tên GNU/Linux) được tạo ra bởi việc đóng gói nhân Linux cùng với các thư viện và công cụ GNU, cũng như là các bản phân phối Linux. Thực tế thì đó là tập hợp một số lượng lớn các phần mềm như máy chủ web, các ngôn ngữ lập trình, các hệ quản trị cơ sở dữ liệu, các môi trường làm việc desktop như GNOME và KDE, và các ứng dụng thích hợp cho công việc văn phòng như OpenOffice.

Khởi đầu, Linux được phát triển cho dòng vi xử lý 386, hiện tại hệ điều hành này hỗ trợ một số lượng lớn các kiến trúc vi xử lý, và được sử dụng trong nhiều ứng dụng khác nhau từ máy tính cá nhân cho tới các siêu máy tính và các thiết bị nhúng như là các máy điện thoại di động.

Ban đầu, Linux được phát triển và sử dụng bởi những người say mê. Tuy nhiên, hiện nay Linux đã có được sự hỗ trợ bởi các công ty lớn như IBM và Hewlett-Packard, đồng thời nó cũng bắt kịp được các phiên bản Unix độc quyền và thậm chí là một thách thức đối với sự thống trị của Microsoft Windows trong một số lĩnh vực. Sở dĩ Linux đạt được những thành công một cách nhanh chóng là nhờ vào các đặc tính nổi bật so với các hệ thống khác: chi phí phần cứng thấp, tốc độ cao (khi so sánh với các phiên bản Unix độc quyền) và khả năng bảo mật tốt, độ tin cậy cao (khi so sánh với Windows) cũng như là các đặc điểm về giá thành rẻ, không bị phụ thuộc vào nhà cung cấp. Một đặc tính nổi trội của nó là được phát triển bởi một mô hình phát triển phần mềm nguồn mở hiệu quả.


Tuy nhiên, hiện tại số lượng phần cứng được hỗ trợ bởi Linux vẫn còn rất khiêm tốn so với Windows vì các trình điều khiển thiết bị tương thích với Windows nhiều hơn là Linux. Nhưng trong tương lai số lượng phần cứng được hỗ trợ cho Linux sẽ tăng lên.


2. Các bản phân phối chủ yếu của Linux




Phần II: Một số hệ điều hành Linux phổ biến.

1. Ubuntu :
Ubuntu (phát âm IPA uːˈbuːntuː) là một hệ điều hành máy tính dựa trên Debian GNU/Linux, một bản phân phối Linux thông dụng. Tên của nó bắt nguồn từ "ubuntu" trong tiếng Zulu, có nghĩa là "tình người", mô tả triết lí ubuntu: "Tôi được là chính mình nhờ có những người xung quanh," một khía cạnh tích cực của cộng đồng. Mục đính của Ubuntu bao gồm việc cung cấp một hệ điều hành ổn định, cập nhật cho người dùng bình thường, và tập trung vào sự tiện dụng và dễ dàng cài đặt. Ubuntu đã được đánh xếp hạng là bản phân phối Linux thông dụng nhất cho máy tính để bàn, chiếm khoảng 30% số bản Linux được cài đặt trên máy tính để bàn năm 2007.

Ubuntu là phần mềm mã nguồn mở tự do, có nghĩa là người dùng được tự do chạy, sao chép, phân phối, nghiên cứu, thay đổi và cải tiến phần mềm theo điều khoản của giấy phép GNU GPL. Ubuntu được tài trợ bởi Canonical Ltd (chủ sở hữu là một người Nam Phi Mark Shuttleworth). Thay vì bán Ubuntu, Canonical tạo ra doanh thu bằng cách bán hỗ trợ kĩ thuật. Bằng vệc để cho Ubuntu tự do và mở mã nguồn, Canonical có thể tận dụng tài năng của những nhà phát triển ở bên ngoài trong các thành phần cấu tạo của Ubuntu mà không cần phải tự mình phát triển.


Canonical ủng hộ và cung cấp hỗ trợ cho bốn bản phân phối dựa trên Ubuntu khác: Kubuntu và Xubuntu, vốn sử dụng KDE và Xfce như là môi trường desktop thay cho hệ thống GNOME mặc định được sử dụng bởi Ubuntu; Edubuntu, một dự án con và là phần bổ sung cho Ubuntu, được thiết kế cho môi trường học tập và sử dụng ở nhà;[3] and Ubuntu JeOS (pronounced "Juice"), một phiên bản khác của Ubuntu, thiết kế cho ác máy ảo.


a) Lược sử.


Bản phát hành đầu tiên của Ubuntu là vào 20 tháng 10 năm 2004, bắt đầu bằng việc tạo ra một nhánh tạm thời của dự án Debian Linux. Việc này đã được thực hiện để một phiên bản mới của Ubuntu có thể được phát hành mỗi 6 tháng, tạo ra một hệ điều hành được cập nhật thường xuyên hơn. Bản phát hành Ubuntu luôn gồm bản GNOME mới nhất, và được lên lịch phát hành khoảng 1 tháng sau GNOME. Khác với các nhánh có mục đích chung trước của Debian - như MEPIS, Xandros, Linspire, Progeny và Libranet, phần nhiều trong số chúng dựa vào các phần mềm bổ sung có mã đóng mô hình của một doanh nghiệp. Ubuntu lại giống với triết lý của Debian hơn và dùng các phần mềm miễn phí (libre) vào mọi thời điểm.


Các gói của Ubuntu nói chung dựa trên các gói từ nhánh không ổn định của Debian: cả 2 bản phân phối đều dùng gói có định dạng deb của Debian và APT/Synaptic để quản lý các gói đã cài. Ubuntu đã đóng góp trực tiếp và lập tức tất cả thay đổi đến Debian, chứ không chỉ tuyên bố chúng lúc phát hành, mặc dù các gói của Debian và Ubuntu không cần thiết "tương thích nhị phân" với nhau. Nhiều nhà phát triển Ubuntu cũng là người duy trì các gói khoá (gói chủ chốt) của chính Debian. Dù sao, Ian Murdock, nhà sáng lập của Debian, đã chỉ trích Ubuntu vì sự không tương thích giữa các gói của Ubuntu và Debian, ông nói rằng Ubuntu đã làm sai lệch quá xa so với Debian Sarge, do đó không còn giữ được sư tương thích.b) Các phiên bản của Ubuntu .


Phiên bản thông thường


Các phiên bản Ubuntu được đặt tên theo dạng Y.MM (tên), trong đó Y tương ứng với năm phát hành, và MM tương ứng với tháng phát hành. Tên trong ngoặc là tên hiệu được đặt cho phiên bản trước khi phát hành chính thức. Trong tháng 10 năm 2004, Ubuntu phát hành phiên bản đầu tiên, Ubuntu 4.10. Mỗi phiên bản Ubuntu thông thường được hỗ trợ trong vòng 18 tháng, chúng cũng được phát hành định kỳ 6 tháng 1 lần và việc nâng cấp lên phiên bản mới hoàn toàn miễn phí. Người dùng được khuyến khích nâng cấp lên phiên bản mới để có thể sử dụng các tính năng mới nhất mà ứng dụng cung cấp. Phiên bản Ubuntu thông thường hiện tại là Ubuntu 9.04 (Jaunty Jackalope), đã được ra mắt vào ngày 23, tháng 4 năm 2009.


Phiên bản hỗ trợ lâu dài


Ubuntu cũng có những phiên bản hỗ trợ dài hạn "Long Term Support", hỗ trợ trong vòng 3 năm đối với máy tính để bàn và 5 năm đối với máy chủ. Ubuntu 8.04 (Hardy Heron), ra mắt vào ngày 24, tháng 4 năm 2008, là phiên bản Long Term Support hỗ trợ đến hiện tại. Canonical sẽ ra mắt phiên bản Long Term Support mỗi 2 năm một lần, và dự kiến sẽ ra mắt bản Long Term Support tiếp theo vào năm 2010, 2 năm sau bản Ubuntu 8.04.

c) Đặc điểm

Ubuntu kết hợp những đặc điểm nổi bật của dòng Linux, như tính bảo mất trước mọi virus và malware, khả năng tùy biến cao, tốc độ, hiệu suất làm việc, và những đặc điểm của Ubuntu như giao diện bắt mắt, bóng bẩy, cài đặt đơn giản, và sự dễ dàng trong việc sao lưu dữ liệu.


d) Cài đặt


Ubuntu cung cấp một tập hợp đầy đủ các tính năng có thể hoạt động ngay lập tức từ bản cài đặt chuẩn, nhưng lại vừa vặn trong 1 đĩa CD. Có một đĩa chạy trực tiếp và một đĩa cài đặt truyền thống cho mỗi lần phát hành. CD chạy trực tiếp cho phép người dùng xem xét phần cứng của họ có tương thích với hệ điều hành hay không trước khi cài đặt lên đĩa cứng. Đĩa Ubuntu, Edubuntu được gửi miễn phí cho bất cứ ai yêu cầu, và tập tin ảnh đĩa cũng có sẵn để tải về. Ubuntu khi chạy cần 256 MB RAM, và khi cài đặt lên đĩa cứng, chiếm 3GB dung lượng đĩa trống.


Quá trình cài đặt Ubuntu sử dụng giao diện đồ họa, tốc độ cài đặt nhanh hay chậm sẽ tuỳ thuộc vào cấu hình máy tính, trung bình là từ 20 - 30 phút.


e) Giao diện



Ubuntu sử dụng giao diện đồ họa thân thiện GNOME, qua đó hướng đến sự đơn giản hóa trong quá trình sử dụng. Đặc điểm có thể nhận thấy rõ ở giao diện mặc định của Ubuntu là các màu chuyển giữa nâu và cam. Ubuntu đi kèm với Compiz-Fusion, để tạo sự bóng bây trong quá trình sử dụng.
Cho đến tháng 4, 2005, Ubuntu có một gói tuỳ chọn được gọi là ubuntu-calendar, gói này tải về một hình nền mới vào mỗi tháng, phù hợp với chủ đề màu nâu của giao diện. Các hình nền này thể hiện những người mẫu bán khoả thân và nó bị chỉ trích như "risqué (khiêu gợi không thích hợp, thiếu tế nhị)". Điều này dẫn đến việc tạo ra những tên giễu như "Linuxxx" hay "Bản phân phối khiêu dâm".
Hơn thế nữa, Ubuntu hướng đến khả năng sử dụng cho người dùng khuyết tật và hỗ trợ nhiều ngôn ngữ, trong đó có tiếng Việt, với mục đích có càng nhiều người dùng càng tốt. Ngay từ phiên bản 5.04, Unicode là bảng mã mặc định.

f) Ứng dụng


Mặc định, Ubuntu được thiết kế để ngay sau khi cài đặt là có thể sử dụng được ngay. Đó là bộ ứng dụng văn phòng OpenOffice.org, trình duyệt Internet Firefox, trình quản lý thư điện tử Evolution, trình gửi tin nhăn tức thời (IM) Pidgin, trình tải file torrent Tranmission và trình biên tập đồ hoạ GIMP. Về truyền thông đa phương tiện, Ubuntu tích hợp trình phát, rip CD Sound Juicer, trình quản lí thư viện nhạc Rhythmbox, trình xem phim Totem Movie Player và trình ghi âm Sound Recorder. Một số ứng dụng nhỏ như chụp màn hình, máy tính toán, các trò chơi bài và trò chơi giải đố cũng có sẵn.


Việc cài đặt ứng dụng trong Ubuntu có nhiều phương tiện, phổ biến nhất là dùng Add/Remove Application và Synaptic Package Manager. Trong đó, Add/Remove Application cho phép người dùng tìm toàn bộ các ứng dụng miễn phí Ubuntu khuyên dùng và cài đặt về máy, còn Synaptic Package Manager là công cụ nâng cao, giúp người dùng cài đặt từng gói con của ứng dụng. Ngoài ra còn một số công cụ sử dụng dòng lệnh, như apt-get, aptitude... Luôn luôn có hơn 17000 ứng dụng khác nhau luôn có sẵn trên mạng để tải về và cài đặt. Hơn nữa chúng hoàn toàn miễn phí.


g) Cấu hình tối thiểu


Phiên bản Desktop của Ubuntu hiện tại hỗ trợ các máy tính cấu trúc Intel x86, AMD, và ARM[6]. Phiên bản server cũng hỗ trợ máy SPARC architecture Unofficial support is available for the PowerPC,[9] IA-64 (Itanium) and PlayStation 3 architectures.


Cấu hình tối thiểu cho quá trình cài đặt là máy có bộ CPU 300 MHz x86, RAM 256 MB, ổ cứng còn 4 Gb chỗ trống, và card màn hình VGA hỗ trợ độ phân giải 640x480 trở lên. Cấu hình khuyên dùng cho quá trình cài đặt là máy có bộ vi xử lí 700 MHz x86, RAM 384 MB, ổ cứng còn 8 GB trống, và card màn hình VGA hỗ trợ độ phân giải 1024×768.


Cấu hình tối thiểu cho việc cài đặt phiên bản server là máy có bộ vi xử lí 300 MHz x86, RAM 64 MB , và card màn hình VGA hỗ trợ độ phân giải 640x480 trở lên.
Những máy tính không hỗ trợ đủ cấu hình tối thiểu, được khuyên dùng Xubuntu, một hệ điều hành tương tự Ubuntu nhưng dựa trên trình quản lí màn hình XFCE.


Nguồn : https://sites.google.com/site/mithuatonline88/home/truyen-cuoi/cn-tt/can-ban-ve-cac-he-dieu-hanh-linux-va-nhung-ban-cap-nhat-moi-nhat/can-ban-ve-cac-he-dieu-hanh-linux-va-nhung-ban-cap-nhat-moi-nhat-p2